Phóng viên (PV): Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam (Luật số 47) đã được triển khai hơn 4 năm. Đại tá cho biết lý do ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật số 47?

Đại tá Trần Văn Dự: Việc ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật số 47 (Luật) xuất phát từ các yêu cầu sau: Luật hóa chính sách cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam; kịp thời điều chỉnh các vấn đề mới phát sinh và bảo đảm sự đồng bộ với quy định của pháp luật khác có liên quan; tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho người nước ngoài nhập xuất cảnh Việt Nam, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, đồng thời đảm bảo an ninh quốc gia.

Đại tá Trần Văn Dự tại buổi công bố Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Nhập cảnh, Xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

PV: Luật có những quy định mới gì nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người nước ngoài nhập cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam, thưa Đại tá?

Đại tá Trần Văn Dự: Luật sửa đổi 17 Điều của Luật số 47, trong đó có nhiều nội dung tạo thuận lợi hơn cho người nước ngoài và cơ quan, tổ chức, cá nhân mời bảo lãnh, như:  Luật hóa việc cấp thị thực điện tử và áp dụng giao dịch điện tử (dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 và mức độ 3). Bỏ quy định người nước ngoài nhập cảnh theo diện đơn phương miễn thị thực thì phải cách thời điểm xuất cảnh Việt Nam lần trước ít nhất 30 ngày. Cho phép chuyển đổi mục đích thị thực trong một số trường hợp, cụ thể: người nước ngoài là nhà đầu tư hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con với người đề nghị; được cơ quan, tổ chức mời, bảo lãnh vào làm việc hoặc vào bằng thị thực điện tử có giấy phép lao động hoặc xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động. 

Khách du lịch tàu biển và thành viên tàu quân sự nước ngoài được xét cấp thị thực theo danh sách kiểm tra nhân sự, xét duyệt nhân sự. Người nước ngoài là đại diện tổ chức đầu tư tại Việt Nam được cấp thị thực đầu tư (hiện chỉ cấp cho cá nhân người nước ngoài đầu tư).

Nhà đầu tư có vốn góp giá trị từ 100 tỷ đồng trở lên được cấp thẻ tạm trú đến 10 năm (ưu đãi đối với nhà đầu tư chiến lược). Người nước ngoài sử dụng thị thực có thời hạn trên 12 tháng thì được cấp chứng nhận tạm trú bằng thời hạn thị thực (Luật số 47 quy định cấp tạm trú không quá 12 tháng). Quy định việc người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh qua Cổng kiểm soát tự động.

PV: Bên cạnh việc tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người nước ngoài nhập xuất cảnh Việt Nam, xin Đại tá cho biết về những quy định nhằm góp phần đảm bảo tốt hơn cho công tác quản lý, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội?

Đại tá Trần Văn Dự: Luật đã quy định các nội dung nhằm kịp thời điều chỉnh thực tế phát sinh trong công tác quản lý. Cụ thể, bổ sung ký hiệu thị thực, thẻ tạm trú cấp cho người nước ngoài thuộc diện miễn giấy phép lao động (để phân biệt với người nước ngoài được cấp giấy phép lao động); luật sư nước ngoài để phân biệt người nước ngoài là nhà đầu tư và người nước ngoài hành nghề luật sư tại Việt Nam (hiện cấp chung ký hiệu thị thực). 

Về thị thực, thẻ tạm trú đầu tư: Quy định mức vốn góp đầu tư (dưới 3 tỷ, từ 3 đến dưới 50 tỷ, từ 50 tỷ đến dưới 100 tỷ, từ 100 tỷ trở lên) hoặc lĩnh vực, địa bàn khuyến khích đầu tư theo quyết định của Chính phủ để làm căn cứ cấp thị thực, thẻ tạm trú ký hiệu ĐT với các mức thời hạn tối đa: 01 năm, 03 năm, 05 năm, 10 năm. Riêng đối với nhà đầu tư có vốn góp dưới 3 tỷ thì không được cấp thẻ tạm trú (mà chỉ cấp thị thực có thời hạn đến 12 tháng). 

Quy định trên phù hợp với chủ trương chọn lựa dự án đầu tư của Chính phủ và để khắc phục tình trạng trên thực tế có nhiều người nước ngoài, doanh nghiệp lợi dụng việc Luật số 47 quy định người nước ngoài có giấy chứng nhận đầu tư, góp vốn cho doanh nghiệp thì được cấp thị thực, thẻ tạm trú (ký hiệu ĐT) có thời hạn đến 5 năm để đề nghị cấp thị thực, cấp thẻ tạm trú, hợp thức việc ở lại lâu dài tại Việt Nam với hình thức góp số vốn nhỏ (nhiều trường hợp chỉ dưới 10 triệu đồng) thành lập doanh nghiệp.

Đối với thị thực du lịch có thời hạn trên 30 ngày thì chỉ cấp tạm trú 30 ngày để hạn chế tình trạng người nước ngoài lợi dụng sự thông thoáng của việc cấp thị thực du lịch (đến 3 tháng) vào Việt Nam hoạt động vi phạm pháp luật (tội phạm công nghệ cao, lao động không phép, kinh doanh du lịch trái phép…).

PV: Luật chính thức có hiệu lực thi hành từ 1-7-2020. Cục Quản lý xuất nhập cảnh đã có những chuẩn bị như thế nào để có thể triển khai Luật đồng bộ, hiệu quả?

Đại tá Trần Văn Dự: Sau khi Quốc hội thông qua Luật, Cục Quản lý xuất nhập cảnh đã và đang khẩn trương thực hiện các công tác nhằm triển khai thi hành Luật: xây dựng, tham mưu Bộ trưởng ký báo cáo Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật; xây dựng, trình Bộ trưởng ký Kế hoạch triển khai thi hành Luật trong lực lượng Công an nhân dân; ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Công an về việc triển khai thi hành Luật; xây dựng các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật (bao gồm 01 Nghị định, 3 Nghị quyết của Chính phủ; 1 Thông tư của Bộ trưởng Bộ Công an); xây dựng tài liệu tuyên truyền, phổ biến nội dung Luật, các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành cho cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng CAND, cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài…

PV: Xin cảm ơn đồng chí!

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam sửa đổi 17 điều của Luật số 47 với các nội dung cơ bản sau:

-Luật hóa việc cấp thị thực điện tử và áp dụng giao dịch điện tử trong việc mời, bảo lãnh người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam.

-Bổ sung quy định miễn thị thực với thời hạn tạm trú 30 ngày cho người nước ngoài vào khu kinh tế ven biển và giao Chính phủ quyết định khu kinh tế ven biển được miễn thị thực nếu đáp ứng đủ các điều kiện.

-Bổ sung quy định cấp thị thực theo danh sách kiểm tra nhân sự, xét duyệt nhân sự của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh đối với khách du lịch tàu biển và thành viên tàu quân sự nước ngoài đi theo chương trình hoạt động chính thức của chuyến thăm ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi tàu thuyền tới neo đậu.

-Quy định các trường hợp được chuyển đổi mục đích thị thực.

-Bổ sung quy định ký hiệu thị thực cho người nước ngoài thuộc diện miễn giấy phép lao động (hiện cấp chung ký hiệu với người lao động nước ngoài), luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam (hiện cấp chung ký hiệu với nhà đầu tư).

-Sửa đổi quy định về ký hiệu, thời gian của thị thực, thẻ tạm trú cấp cho nhà đầu tư nước ngoài (Luật số 47 quy định một loại thị thực, thẻ ký hiệu ĐT với thời hạn 5 năm) theo hướng: Căn cứ mức vốn góp đầu tư hoặc ngành, nghề, địa bàn ưu đãi, khuyến khích đầu tư để cấp thị thực, thẻ tạm trú có thời hạn và ký hiệu phù hợp. Theo đó, nhà đầu tư có vốn góp giá trị dưới 3 tỷ đồng chỉ được cấp thị thực có thời hạn không quá 1 năm, nhà đầu tư có vốn góp giá trị từ 100 tỷ đồng trở lên được cấp thẻ tạm trú đến 10 năm.

-Quy định việc cấp chứng nhận tạm trú tại cửa khẩu bằng thời gian thị thực. Riêng thị thực du lịch có thời hạn trên 30 ngày thì cấp tạm trú 30 ngày.

- Giao chính phủ quy định việc người nước ngoài nhập cảnh vào khu vực được miễn thị thực theo quy định của Luật, việc cấp thị thực cho người nước ngoài vào Việt Nam theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên nhưng chưa có hiện diện thương mại hoặc đối tác tại Việt Nam, hình thức cấp chứng nhận tạm trú cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam, người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh thông qua Cổng kiểm soát tự động.

Nguyễn Hương (thực hiện)