Qua thanh tra, kiểm tra về quy hoạch 1/5000 cho thấy, một loạt các văn bản có liên quan như: tờ trình, văn bản thẩm định của UBND thành phố, Bộ Xây dựng và Quyết định phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ nêu không đầy đủ, cụ thể về ranh giới, vị trí quy hoạch, nhất là “các hồ sơ kèm theo” theo quy định tại Nghị định số 91/CP ngày 17/8/1994, Thông tư số 25/BXD-KTQH ngày 22-8-1995 và Quyết định số 322/BXD-ĐT ngày 28-12-1993 như: toàn bộ bản ve gồm sơ đồ hiện trạng; các loại bản đồ quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng hạ tầng, điện, nước, môi trường và các loại văn bản thuyết minh, thỏa thuận… dẫn đến qua thời gian dài cùng với công tác lưu trữ không tốt của các cơ quan liên quan, UBND thành phố và các sở, ngành không cung cấp đầy đủ được các hồ sơ, tài liệu chính thức kèm theo Quyết định số 367/TTg, nhất là các bản đồ quy hoạch 1/5000. Kiểm tra tại Ban Quản lý KĐTM Thủ Thiêm và Sở Quy hoạch – Kiến trúc thành phố chỉ cung cấp được 2 loại bản đồ quy hoạch 1/5000.

Một góc của KĐTM Thủ Thiêm (ảnh: Khánh Đinh)

Về quy hoạch chi tiết 1/2000, kiểm tra cho thấy, theo quy định tại Nghị định số 91/NĐ-CP ngày 17/8/1994, thẩm quyền phê duyệt quy hoạch 1/2000 đối với KĐTM Thủ Thiêm thuộc UBND thành phố, nhưng UBND thành phố đã giao cho Kiến trúc sư trưởng thành phố phê duyệt. 

Việc làm này của Kiến trúc sư trưởng thành phố là không đúng thẩm quyền khi chưa được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận điều chỉnh tăng, giảm diện tích, theo đó, ranh quy hoạch KĐTM đã thay đổi về phía Bắc thuộc Khu phố 1, phường Bình An (quận 2) tăng 4,3 ha, giảm 26,3 ha, vi phạm quy định tại Nghị định số 91/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ. 

Đáng chú ý, Quyết định số 13585/KTST-QH ngày 16/9/1998 của Kiến trúc sư trưởng thành phố, trong đó ghi vị trí giới hạn không đúng so với bản đồ và thực địa, cụ thể: quyết định nêu “phía Bắc giáp sông Sài Gòn (quận Bình Thạnh) và xa lộ Hà Nội; phía Nam giáp sông Sài Gòn (quận 7); phía Đông giáp phần còn lại phường An Khánh (quận 2); phía Tây giáp sông Sài Gòn (quận Bình Thạnh) và một phần phường An Khánh, Bình An (quận 2); phía Nam giáp sông Sài Gòn (quận 7); phía Đông giáp phần còn lại của phường Bình Khánh (quận 2); phía Tây giáp sông Sài Gòn (quận 1)”. Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc người dân khiếu nại về ranh giới quy hoạch và đền bù, giải phóng mặt bằng.

Bên cạnh đó, theo TTCP, UBND thành phố căn cứ vào Quyết định số 367/TTg và văn bản số 190/CP-NN được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thu hồi 4,3 ha đất thuộc Khu phố 1, phường Bình An để thực hiện một số dự án trong KĐTM Thủ Thiêm là chưa đủ cơ sở pháp lý, dẫn đến thiếu căn cứ thực hiện, không xác định đúng, đủ diện tích đất phục vụ tái định cư theo quy hoạch, cần rà soát và có giải pháp giải quyết phù hợp. 

Mặt khác, KĐTM Thủ Thiêm là công trình có quy mô lớn, tổng số lượng hồ sơ cần di dời trên 15.000 hồ sơ, thời gian thực hiện đến nay khoảng hơn 15 năm; trong giai đoạn thực hiện có nhiều thay đổi về chính sách đền bù thiệt hại… Thế nhưng, việc chấp hành quy định pháp luật về trình tự, thủ tục triển khai giải phóng mặt bằng của thành phố, trực tiếp là quận 2 có trường hợp chưa đủ, chưa đúng quy định. 

Quá trình thực hiện thu hồi đất, đền bù, giải phóng mặt bằng của UBND thành phố còn có trường hợp đang khiếu nại chưa phù hợp quy định của pháp luật, nhất là khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực; công tác giải phóng mặt bằng không có kế hoạch triển khai thực hiện xây dựng nhà tái định cư trước, khi thực hiện còn chậm, còn một số hạn chế, bất cập dẫn đến phát sinh khiếu nại về chế độ, chính sách đền bù, hỗ trợ, chưa bàn giao mặt bằng…

Về các dự án thuộc 5 phường được quy hoạch khu tái định cư, trong 51 dự án được UBND thành phố quyết định giao sau khi đã có Quyết định số 367/QĐ-TTg ngày 4/6/1996 và văn bản số 190/CP-NN ngày 22/2/2002 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch khu tái định cư. Hậu quả là không có đủ đất để bố trí tái định cư theo quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. 

UBND thành phố không thực hiện lập, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết 1/2000 trước khi giao đất nhưng vẫn được phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/500 để các dự án đầu tư xây dựng; thay vì tạm thời dừng giao đất cho các dự án không cấp thiết, quản lý chặt chẽ sự biến động của quỹ đất trong khu vực đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch thì UBND thành phố lại chấp thuận chủ trương, tạm giao cho 6 dự án với diện tích 27,7 ha và quyết định giao đất chính thức cho 45 dự án với tổng diện tích khoảng 116,9 ha. Những việc làm này thể hiện công tác quản lý sử dụng đất bị buông lỏng, thiếu kiểm soát, giao đất tràn lan cho các dự án, làm phá vỡ không gian, quy mô quy hoạch, đặc biệt là không bảo đảm được quỹ nhà, đất phục vụ tái định cư theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Trước những khuyết điểm, vi phạm, ảnh hưởng đến quyền lợi một số hộ dân sinh sống trên địa bàn liên quan đến quá trình thực hiện đầu tư, xây dựng KĐTM Thủ Thiêm, TTCP kiến nghị, việc khiếu nại của người dân về ranh quy hoạch đối với 4,3 ha thuộc Khu phố 1, phường Bình An nằm ngoài ranh quy hoạch KĐTM Thủ Thiêm được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 367/TTg của Thủ tướng Chính phủ là có cơ sở, cần sớm được xem xét và có giải pháp giải quyết phù hợp. 

Cùng với đó, TTCP kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo UBND thành phố Hồ Chí Minh xác định rõ, cụ thể về trách nhiệm liên quan đến những khuyết điểm, vi phạm như kết luận TTCP đã nêu, trên cơ sở đó kiểm điểm, chỉ đạo kiểm điểm, xử lý trách nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc phê duyệt quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch; thu hồi đất, đền bù, tái định cư; việc lưu trữ hồ sơ, tài liệu, bản đồ…để xử lý nghiêm theo quy định pháp luật; công khai, nhận trách nhiệm về những khuyết điểm, vi phạm dẫn đến khiếu nại kéo dài trong thời gian vừa qua.

 Đồng thời, đối với Bộ Xây dựng, yêu cầu đơn vị này tiến hành kiểm tra, rà soát, hướng dẫn UBND thành phố hoàn thiện các đồ án quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch đối với các dự án liên quan đến KĐTM Thủ Thiêm theo đúng quy định của pháp luật; xem xét, xử lý trách nhiệm đối với những tổ chức, cá nhân có liên quan đến các khuyết điểm, vi phạm trong việc thực hiện thẩm định, lưu trữ hồ sơ, bản vẽ và chức năng quản lý nhà nước về quy hoạch xây dựng như kết luật đã nêu. Với Văn phòng Chính phủ, xem xét xử lý trách nhiệm đối với những tổ chức, cá nhân có liên quan đến các thiếu sót, khuyết điểm trong việc lưu trữ hồ sơ, bản vẽ quy hoạch.


Trần Huy