PV Báo CAND đã có cuộc trao đổi với ông Lê Đức Thành, Phó cục trưởng Cục Công nghệ thông tin và Thống kê hải quan xung quanh vấn đề này.

PV: Hải quan là một trong những đơn vị được cộng đồng doanh nghiệp (DN) đánh giá cao trong việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng CNTT, tạo điều kiện thuận lợi cho DN. Vậy ông có thể chia sẻ cụ thể hơn về những dịch vụ công mà Tổng cục Hải quan (TCHQ) đang triển khai?

Ông Lê Đức Thành: Triển khai dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) là một trong những công việc quan trọng đã và đang được ngành Hải quan triển khai thực hiện trong nhiều năm qua. Từ năm 2014, Tổng cục Hải quan đã triển khai thành công hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS, cung cấp DVCTT ở mức độ 4 đối với những thủ tục hải quan cốt lõi trong thông quan hàng hóa. Đến nay, 100% thủ tục hải quan cốt lõi trong thông quan hàng hóa đã được tự động hóa, 100% Cục Hải quan, Chi cục Hải quan thực hiện thủ tục hải quan điện tử với 99,65% doanh nghiệp tham gia.

Ông Lê Đức Thành.

PV: Việc cung cấp DVCTT của ngành Hải quan đã mang lại lợi ích cụ thể nào đối với doanh nghiệp?

Ông Lê Đức Thành: Việc thực hiện TTHC bằng phương thức điện tử góp phần giảm sự tiếp xúc trực tiếp giữa DN với cán bộ công chức. Đồng thời DN có thể theo dõi trực tuyến toàn bộ quá trình xử lý TTHC, góp phần công khai, minh bạch hoạt động của cơ quan hải quan.

Với số lượng lớn dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4 như hiện nay, cơ quan hải quan đã tạo nhiều thuận lợi cho DN, giảm được thời gian và chi phí thực hiện TTHC hải quan, tăng năng lực cạnh tranh. DN có thể khai báo các TTHC liên quan đến thông quan hàng hóa; nộp thuế, phí, lệ phí; thủ tục đối với phương tiện vận tải và nhận được kết quả phản hồi của cơ quan hải quan trên mạng Internet.

PV: Vậy, khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến, DN có được nhận được kết quả điện tử không?

Ông Lê Đức Thành: Cơ quan Hải quan sẵn sàng trả kết quả cho DN bằng hình thức điện tử. Tuy nhiên, DN lại chưa sẵn sàng để nhận kết quả bằng hình thức điện tử. Đơn cử như, DN được làm thủ tục trực tuyến thành lập kho ngoại quan, cơ quan hải quan sẵn sàng trả quyết định điện tử.

Tuy nhiên, khi tiến hành những thủ tục tiếp theo tại cơ quan quản lý ở địa phương, quyết định điện tử có thể không được chấp nhận. Do đó, nếu chỉ trả kết quả điện tử, DN sẽ khó khăn khi thực hiện các thủ tục tiếp theo với các cơ quan quản lý nhà nước khác.

PV: Theo phản ánh của DN, hiện nay vẫn còn tồn tại thực trạng khi thực hiện DVCTT mà vẫn phải trình hồ sơ, chứng từ giấy. Vậy theo ông, cách khắc phục vấn đề này như thế nào?

Ông Lê Đức Thành: Trên thực tế vẫn còn tồn tại thực trạng này. Trong đó, một số trường hợp cụ thể phải xuất trình hồ sơ giấy như loại chứng từ mà DN phải nộp để cơ quan hải quan đóng dấu xác nhận và trả cho DN thực hiện các thủ tục tiếp theo.

Loại chứng từ như catalogue có số lượng bản giấy lớn lên đến hàng trăm trang nếu phải số hoá sẽ gây thêm khó khăn cho DN thì cũng được phép nộp bản giấy. Trước thực trạng trên, Tổng cục Hải quan đã có những đề xuất kiến nghị sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan trong lĩnh vực hải quan.

Thủ tướng chính phủ cũng đã giao Bộ Tài chính chủ trì đề xuất sửa đổi Nghị định 27/2007/NĐ-CP về giao dịch điện tử trong lĩnh vực tài chính và trình Chính phủ ban hành trong năm 2018. Sau khi nghị định được triển khai thì sẽ giải quyết được những vấn đề nêu trên và phát huy tính ưu việt của công tác triển khai DVCTT.

PV: Mới đây, Hải quan triển khai hệ thống nộp thuế điện tử 24/7, giúp cho doanh nghiệp chủ động trong nộp thuế và thông quan hàng hoá. Ông đánh giá như thế nào việc triển khai đề án này?

Ông Lê Đức Thành: Với Đề án nộp thuế và thông quan 24/7, người nộp thuế lập bảng kê nộp thuế trực tiếp trên Cổng thanh toán điện tử hải quan mọi lúc, mọi nơi, mọi phương tiện có kết nối với internet và được ngân hàng xác nhận kết quả giao dịch thành công ngay sau khi nhận được yêu cầu chuyển tiền nộp thuế. Cũng ngay sau đó, DN có thể thực hiện thông quan.

Cổng thanh toán điện tử sẽ giúp ngành Hải quan tạo thuận lợi tối đa cho người nộp thuế, qua đó rút ngắn thời gian hoàn thành thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất - nhập khẩu của DN xuống bằng mức trung bình của nhóm nước ASEAN-4.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

Lưu Hiệp (thực hiện)