Hà Giang, nếu xét theo lịch sử địa giới hành chính thời chống Pháp, thì thuộc Việt Bắc: Cao - Bắc - Lạng - Thái - Tuyên - Hà (Cao Bằng - Bắc Kạn - Lạng Sơn - Thái Nguyên - Tuyên Quang - Hà Giang). Trên bản đồ, Hà Giang ở chính Bắc, cao nhất về vĩ độ, có Lũng Cú - "Đỉnh đầu Tổ quốc". Tuy vậy, về mặt phong thổ, phong cảnh, cư dân, thì giống với Tây Bắc hơn: Càng đi càng thấy đá nhiều hơn đất. Đá nhiều hơn cây. Núi càng ngày càng cao càng nhọn. Người Mông càng ngày càng đông. Tại Đồng Văn, Mèo Vạc, thì họ chiếm tuyệt đại đa số.

Đồng Văn bây giờ được gọi bằng một cái tên rất tượng hình: "Cao nguyên đá", "Công viên địa chất" quốc tế. "Cao nguyên đá" Đồng Văn, chiếm cả huyện, bây giờ là khu bảo tồn địa chất của ta, của thế giới, nằm trong danh mục những khu bảo tồn thiên nhiên độc đáo của Liên hợp quốc, có cả tiêu bản hóa thạch của bọ ba thùy thời tiền sử.

Để vào trung tâm "Cao nguyên đá", phải đi qua "cổng trời" Quản Bạ. Đó là một khe hẹp, kẹp giữa hai đỉnh núi, ngay giữa đỉnh đèo cao vời vợi. Nghe nói, ngày xưa "Vua Mèo" cho lắp ở đây một bộ cánh cửa bằng lim dày, nẹp thép, tán đinh ri-vê vô cùng chắc chắn. Lối đi hẹp, độc đạo, cánh cửa chắc, lại có lính bảo vệ, "một người giữ, ngàn người khó qua".

Muốn thấy "nước dưới khe sâu", thì dưới chân "cổng trời" chưa thấy được. Phải vài ngày nữa, về qua Mã Pì Lèng (đèo Cặc Ngựa) dài dằng dặc, vắt va vắt vẻo như cái tên của nó, ngó xuống sâu hút, mới thấy dòng Nho Quế nằm như một dải thủy ngân, bất động dưới ấy. "Bất động", vì xa quá, không nhìn thấy nước chảy, không nghe thấy "nước dội ầm ầm trăm khe sâu".

Trở lại với đường 4C. Tới xã Sủng Là, xe không sang Phó Bảng, mà rẽ phải để lên Lũng Cú, qua các xã Xà Phìn, Lũng Táo, Ma Lé.

Đoàn công tác Báo CAND, Công an tỉnh Hà Giang và Công ty Tân Việt Bắc tại Dinh Vương Chí Sình, tháng 1 năm 2010.

Từ Sủng Là, hơn chục cây số nữa là đến Nhà Vương. Nhà Vương là dinh thự - pháo đài của hai đời "Vua Mèo" xưa - Vương Chính Đức và Vương Chí Sình. Dinh thự cũng là "Tử cấm thành", có tường đá dày bao quanh, có cổng đá, có "Tiền dinh", "Trung dinh" và "Hậu dinh", với lô cốt bảo vệ trổ nhiều lỗ châu mai nhìn suốt thung lũng Xà Phìn. Toàn bộ dinh thự, dài 64 mét, rộng 22 mét, cao 10 mét, có 4 nhà ngang và 6 nhà dọc, 2 tầng, tổng cộng 64 buồng. Tường nhà trình đất dày, móng xây bằng đá hộc, cột kèo bằng gỗ nghiến, sàn gỗ, mái lợp ngói âm - dương. Riêng mái các hàng hiên thì dùng ngói ống Tàu màu lưu ly. Dinh thự là sự kết hợp giữa kiến trúc Pháp, kiến trúc Tàu và kiến trúc Mông truyền thống. Tổ hợp này được thiết kế theo hình chữ "Mục" (Mắt), nằm trên quả đồi có hình mai rùa, tựa lưng vào Bắc, cửa nhìn về Nam.

Nghe nói khi đi tìm đất cùng thầy địa lý, Vương Chính Đức bảo: "Đây là mảnh đất có địa thế tuyệt hảo. Giữa thung lũng có khu đất mai rùa nổi lên, dựng cơ nghiệp trên lưng thần Kim Quy sẽ bền vững đời đời. Trước mặt có hai ngọn núi hình mâm xôi cho ta nuôi sống con cái, thần dân. Phía sau có dãy núi như bức trường thành vòng cung ôm lấy dinh thự, tựa vào đó, nghìn năm không đổ".

Vương Chính Đức sinh năm 1865 tại Đồng Văn. Năm 1923, ông được Khải Định phong làm Bang tá cùng với bức hoành phi "Biên chính khả phong" (Chính quyền nơi biên cương này xứng đáng được phong tặng). Bang tá Vương Chính Đức thay mặt cho Tri châu, cai quản khu vực Đồng Văn lúc ấy, gồm năm xã của huyện Quản Bạ và các huyện Đồng Văn, Yên Minh, Mèo Vạc gộp lại.

Khi đã già yếu, Vương Chính Đức trao lại quyền hành cho người con trai thứ hai, tài giỏi nhất trong bốn con trai của ông, đó là Vương Chí Sình. Vương Chí Sình có bà vợ ba tên là Trương Mỹ Thuận. Cha bà Thuận là người Quảng Đông, Trung Quốc, từng là người phiên dịch tiếng Pháp cho Tôn Trung Sơn. Mẹ bà Thuận gốc Hà Đông, Việt Nam, cũng là người phục vụ của họ Tôn. Bà Thuận có vai trò quan trọng trong hậu cung của "Vua Mèo" Vương Chí Sình.

Phiên chợ Tết ở vùng cao.

Thời ấy, suốt dải biên cương phía Bắc nước ta, hễ ai hùng cứ được một vùng, thì được gọi là "Vua". Tây Bắc có "Vua" Đèo Văn Long, Lào Cai có "Vua" Hoàng A Tưởng...

Năm 1945, "Vua Mèo" Vương Chí Sình và bà Trương Mỹ Thuận về Hà Nội gặp Hồ Chủ tịch. Cụ Hồ lưu vợ chồng Vương Chí Sình ở Hà Nội một thời gian và cùng kết nghĩa làm anh em. Chính vì lẽ đó, Vương Chí Sình đổi tên là Vương Chí Thành, ý là để được trùng với tên Bác thời trai trẻ (Nguyễn Tất Thành).

Tổng tuyển cử Quốc hội tháng 1 năm 1946, Vương Chí Sình trúng cử, trở thành Đại biểu Quốc hội khóa I (1946 - 1960), sau tái đắc cử, là Đại biểu Quốc hội khóa II (1960 - 1964).

Vương Chí Sình từng là Chủ tịch Ủy ban Hành chính huyện Đồng Văn. Đến năm 1956, ông xin thôi chức và người lên thay là ông Vù Mí Kẻ. Ông Vù Mí Kẻ trước kia là người đốt củi lấy than cho Nhà Vương. Năm 1959, Vương Chí Sình được điều về Hà Nội làm chuyên viên ủy ban Dân tộc Trung ương. Năm  1962, Vương Chí Sình mất tại Hà Nội. Thi hài ông được mai táng ở Phó Bảng. Năm 2003, gia đình chuyển mộ ông về cổng khu dinh thự - pháo đài nhà Vương ở Xà Phìn.

Tôi đến thắp hương trước mộ ông, thấy trên đá, dưới ảnh ông, có khắc đôi câu đối Cụ Hồ tặng cho ông ngày nào: Bất thụ nô lệ - Tận trung báo quốc. Mộ của Vương Chính Đức thì lại nằm ở sườn núi Lầu Chúa Tủng, cách Ủy ban nhân dân huyện Mèo Vạc chừng ba cây số, tôi không đến được. Trong hai năm (2004 - 2005), Bộ Văn hóa Thông tin đầu tư 6 tỷ đồng, trùng tu và tôn tạo Nhà Vương. Từ năm 1993, đây là "Di tích nghệ thuật kiến trúc Nhà Vương", cấp quốc gia, điểm du lịch quan trọng nhất Đồng Văn bây giờ. Hằng năm, hàng vạn người đã qua đây.

Rời Nhà Vương, tôi đi Lũng Cú, nơi có ngọn cờ đỏ sao vàng lớn nhất nước, luôn tung bay nơi đỉnh cây cột cờ cao vút trên chóp núi, xây bằng đá xẻ Đồng Văn. Bây giờ ôtô có thể đi thẳng từ Hà Nội đến chân cột cờ. Ngô trong đá, chỗ đương xanh, chỗ đã khô vàng. Những nương lúa đang hoặc đã được gặt. Dưới chân cột cờ, một người con gái Mông, trang phục dân tộc, đang làm phụ hồ. Cô ấy xinh, sử dụng cây xẻng, trộn vữa cho thợ hoàn thành chân cột, thành thạo như ai.

Không thể cầm lòng trước mọi việc, tôi cảm khái viết một bài thơ về đất và người Đồng Văn, về Tổ quốc mến yêu của tôi:

Đá và cờ ở Đồng Văn

Dưới bóng cờ sao đầu Lũng Cú
Đá cũng là dân đất nước tôi
Chiều xuống, sương bò ra mặt đá
Như người giữ nước đổ mồ hôi

Cả đá lẫn người đều hào kiệt
Muôn kiếp thi gan nhật nguyệt rồi
Ngậm gió cổng trời, buông tiếng thét
Đá thề sống chết tựa người thôi

Sống chết, tận trung mà báo quốc
Chầu bên cột mốc chốn biên thùy
Ấm lạnh với người trong sương tuyết
Che đỡ cho người lúc hiểm nguy

Rồi đá cho người thân kiếp đá
Dựng thành chót vót với uy nghi
Hồn nước ngày đêm theo thạch trụ
Phần phật reo trên ngọn quốc kỳ.

Một họa sĩ Nam Bộ đi trong đoàn, khi dừng nghỉ giữa đèo Mã Pì Lèng, nói với tôi: "Giá mỗi người dân Việt đều được đi một chuyến như thế này, họ sẽ càng yêu nước biết bao nhiêu, anh nhỉ?".

Tôi gật đầu, hoàn toàn đồng ý với ý kiến của anh. Rời Mèo Vạc, chúng tôi về Tĩnh Túc rồi qua Ba Bể. Suốt dọc đường, tôi lại càng đồng ý với anh ấy

Đỗ Trung Lai (Báo CAND Tết 2011)