Trước khi tranh luận, thừa uỷ quyền VKSND Tối cao thực hành quyền công tố tại toà, đại diện VKSND TP Hồ Chí Minh đã luận tội các bị cáo. Theo VKS, trên địa bàn TP Hồ Chí Minh thời gian gần đây có nhiều vụ án ngân hàng xảy ra gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh tiền tệ. Vụ án Phạm Công Danh và các đồng phạm là một ví dụ điển hình nên cần phải xử lý nghiêm.

Theo đó, dựa vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại toà, lời khai của các nhân chứng, người liên quan, VKS cho rằng đủ cơ sở để kết luận: trong quá trình chuyển giao ngân hàng Đại Tín từ nhóm Phú Mỹ, Phạm Công Danh đã điều hành VNCB (tiền thân là ngân hàng Đại Tín) khiến ngân hàng này thua lỗ nặng buộc ngân hàng Nhà nước phải đặt VNCB dưới sự quản lý đặc biệt, mọi giao dịch trên 5 tỷ đồng phải báo cáo Tổ giám sát ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, trong 2 năm 2013 và 2014, do cần tiền để sử dụng nhưng không thể vay trực tiếp tại VNCB nên Phạm Công Danh đã chỉ đạo lãnh đạo, nhân viên VNCB và các nhân viên Tập đoàn Thiên Thanh sử dụng 29 lượt công ty do Danh thành lập hoặc mượn pháp nhân, lập hồ sơ khống đứng tên các công ty vay vốn tại 3 ngân hàng Sacombank, TP Bank, BIDV. Đồng thời, Danh còn dùng tiền của VNCB gửi sang 3 ngân hàng này để cầm cố, bảo lãnh cho các khoản vay, sau đó bị 3 ngân hàng trên thu hồi nợ từ tiền gửi của VNCB với tổng số tiền 6.126 tỷ đồng.

 Toàn bộ số tiền các công ty vay được từ 3 ngân hàng được Danh chỉ đạo sử dụng cho các mục đích của Danh. Do các công ty này làm hồ sơ vay khống, không thực hiện kinh doanh theo phương án đã cam kết trong hợp đồng tín dụng nên không có tiền trả nợ, dẫn đến VNCB bị thiệt hại 6.126 tỷ đồng. Hành vi nêu trên của Danh và các đồng phạm đã phạm vào tội “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”.

Các bị cáo tại toà

Trong vụ án này, VKS xác định Danh là người chủ mưu, cầm đầu và chỉ đạo cho các cấp dưới lập hồ sơ khống hồ sơ vay gửi 6.630 tỷ đồng của VNCB sang gửi thị trường 2 (liên ngân hàng) tại 3 ngân hàng nói trên và dùng số tiền này để cầm cố, bảo lãnh, trả nợ thay cho các công ty vay tiền.

Được dư luận quan tâm nhất trong vụ án này, ông Trầm Bê bị VKS quy kết đã bàn bạc, thống nhất cho Danh vay tiền. Trầm Bê đã đưa Danh gặp Phan Huy Khang (nguyên TGĐ Sacombank) để trao đổi về việc Danh vay tiền qua các công ty của Danh. Sau đó, Trầm Bê đã thống nhất với Khang cho Danh vay 1.800 tỷ đồng. Từ đó, Khang đã chỉ đạo nhân viên các chi nhánh Hưng Đạo và quận 8 làm các thủ tục hợp thức hoá để giải ngân cho vay.

 Hồ sơ cho vay đều là các hồ sơ lập khống, các công ty vay vốn đều không có hoạt động kinh doanh, không thẩm định, không kiểm tra sau khi cho vay, bỏ mặc cho Danh sử dụng tiền vay trái pháp luật; khi cho vay đã tính trước khoản lãi vay 12 tháng để yêu cầu VNCB dùng tiền gửi bảo lãnh và hết hạn cho vay đã tự thu hồi tiền vay thông qua tiền gửi, gây thiệt hại cho VNCB 1.835 tỷ đồng. 

Tại toà, bị cáo Trầm Bê khai nhận quen biết Danh từ khi còn làm việc tại ngân hàng Phương Nam. Bị cáo thành khẩn nhận tội nhưng có nhận thức không đúng là có thể cho Danh vay với điều kiện có tài sản đảm bảo.

Đối với Phan Thành Mai (nguyên TGĐ VNCB) đã có hành vi tiếp nhận chủ trương và sự chỉ đạo của Danh, trực tiếp chỉ đạo các nhân viên VNCB tham gia vào các hoạt động bất hợp pháp để có tiền cho Danh sử dụng. Bị cáo Mai cũng là người trực tiếp họp bàn, thống nhất ký biên bản họp HĐQT để ra chủ trương cấp tín dụng cho Danh thông qua các công ty của Danh vay tiền bằng các hồ sơ vay trái quy định của pháp luật. Thực hiện chỉ đạo của Danh, bị cáo Mai đã chuẩn bị nguồn tiền, làm chủ tài khoản để ký hợp đồng tiền gửi, ký lệnh điều chuyển tiền, ký bảo lãnh cho các công ty vay tiền. Mai còn là người đề xuất Danh về việc phát hành trái phiếu Tập đoàn Thiên Thanh, công ty Trung Dung trái pháp luật, thông qua Quỹ Lộc Việt bán, thế chấp trái phiếu đó lấy tiền cho Danh sử dụng, ký các văn bản giới thiệu khách hàng, ký các hợp đồng cầm cố tài sản bên thứ ba, ký các hợp đồng tiền gửi để trả nợ thay các công ty vay vốn tại các ngân hàng nêu trên, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho VNCB với tổng số tiền 6.126 tỷ đồng.

Đối với các bị cáo là cấp dưới của ông Danh như Mai Hữu Khương (nguyên thành viên HĐQT, giám đốc khối kinh doanh VNCB), Nguyễn Quốc Viễn (nguyên trưởng ban kiểm soát VNCB), Hoàng Đình Quyết (nguyên trưởng phòng tín dụng VNCB), Phan Minh Tùng (nguyên phụ trách bộ phận kế toán của Tập đoàn Thiên Thanh) được xác định là đồng phạm, làm theo chỉ đạo của bị cáo Danh.

Đứng vai trò giúp sức cho Phạm Công Danh chỉ sau các bị cáo trên, Nguyễn Việt Hà (nguyên TGĐ công ty cổ phần quản lý Quỹ Lộc Việt), được xác định là người bàn bạc, thoả thuận và thống nhất với Danh, Mai, Khương dùng thủ đoạn uỷ thác đầu tư 903 tỷ đồng từ VNCB qua Quỹ Lộc Việt để ký hợp đồng uỷ thác đầu tư trái phiếu với VNCB, dùng tiền đó để mua trái phiếu 3 công ty thuộc Quỹ Lộc Việt. Cả 3 công ty đều không phát hành trái phiếu mà trực tiếp mua trái phiếu của Tập đoàn Thiên Thanh từ tiền uỷ thác đầu tư trái phiếu của VNCB. Dưới hình thức mua bán trái phiếu không có thật của Tập đoàn Thiên Thanh, Hà đã chỉ đạo 3 công ty chuyển tiền quay trở lại Tập đoàn Thiên Thanh để Danh sử dụng số tiền trên. Hành vi của Hà được xác định là đồng phạm giúp sức cho Danh về việc gây ra thiệt hại số tiền này. Quá trình điều tra, bị cáo Hà không thừa nhận có hành vi giới thiệu các công ty cho Danh vay tiền, tuy nhiên tại toà bị cáo đã thừa nhận tội danh như truy tố của VKS.

Đối với các bị cáo còn lại, trong đó có 19 bị cáo là giám đốc của các công ty của Danh được xác định có hành vi ký các hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc vay tiền tại các ngân hàng trong vụ án này, ký các hợp đồng tín dụng, hợp đồng cầm cố tài sản, ký các chứng từ nhận tiền vay, chuyển đến tài khoản theo chỉ đạo, tạo điều kiện cho Danh có được tiền vay và bỏ mặc cho Danh sử dụng nguồn tiền trên, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng cho VNCB. Tuy nhiên, xét những bị cáo này đều là nhân viên dưới quyền hoặc người thân với Danh và được nhờ đứng tên làm giám đốc, họ không góp vốn, không điều hành công ty, họ chỉ ký các hồ sơ, thủ tục, chứng từ đã được lập sẵn do nhân viên tài chính đưa cho, không biết nội dung ký và không hưởng lợi gì nên giảm nhẹ một phần hình phạt.

Với các tài liệu và chứng cứ trên, theo VKS có đủ căn cứ để xác định các bị cáo hành vi phạm tội “cố ý làm trái...” như đã nêu trên.

Quá trình thẩm vấn công khai tại toà, hầu hết các bị cáo đều nhận tội. Riêng bị cáo Nguyễn Tiến Dũng (nguyên kiểm soát viên định giá công ty Thịnh Phát) không thừa nhận tội nhưng dựa vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình thẩm vấn công khai tại toà đủ xác định bị cáo là một mắc xích quan trọng trong vụ án, cùng với các bị cáo Đinh Việt Cường (nguyên GĐ), Đặng Thị Bích Thuỷ (nguyên phó GĐ khối khách hàng doanh nghiệp TP Bank) gây thiệt hại cho VNCB số tiền 153 tỷ đồng.

Về phần trách nhiệm dân sự, theo VKS, tại phiên toà, các luật sư của các bị cáo đề nghị đối trừ số tiền này mà nhóm Danh đã lấy từ 6.126 tỷ đồng để tăng vốn điều lệ cho VNCB. Tại toà, đại điện CB (VNCB đổi tên) đã cho rằng số tiền này đã hoà vào dòng tiền chung nên không thể bóc tách ra được. Tuy nhiên, số tiền này cũng đã được Danh sử dụng trong giai đoạn làm chủ tịch HĐQT VNCB. Theo bản án được xác định ở giai đoạn 1, tại thời điểm khởi tố vụ án, vốn sở hữu của VNCB là âm hơn 18.000 tỷ đồng trong khi tổng nợ phải trả là 38.000 tỷ đồng nên việc các bị cáo và các luật sư yêu cầu đối trừ là không có căn cứ.

Với quan điểm nêu trên, VKS đã đề nghị HĐXX tuyên phạt bị cáo Phạm Công Danh mức án 20 năm tù, tổng hợp hình phạt với bản án cũ là 30 năm tù. Bị cáo Trầm Bê bị đề nghị mức án từ 5-6 năm tù.

Liên quan đến vụ án, các bị cáo Phan Thành Mai bị đề nghị 13-15 năm tù, tổng hợp chung án cũ là 30 năm tù; Mai Hữu Khương từ 11-13 năm, tổng hợp 30 năm; Hoàng Đình Quyết 4-5 năm, tổng hợp án cũ là từ 23-24 năm; Nguyễn Việt Hà từ 5-6 năm tù. Liên quan đến vụ án, các bị cáo còn lại cũng bị đề nghị 3 năm cải tạo không giam giữ đến 7 năm tù, trong đó hầu hết các bị cáo làm giám đốc thuê đều được đề nghị cải tạo không giam giữ hoặc án treo.

A.Huy - Hồng Sơn