1. Một năm văn học sẽ được nhìn nhận từ phía nào? Theo chúng tôi đó mới là vấn đề mấu chốt. Trước hết, nếu nhìn từ phương diện quản lý và chính sách văn hóa, văn nghệ (trong đó văn học là chủ lực) thì sẽ thấy cần có sự quan tâm đúng mức đến văn học.

Vì sao? Vì văn học đang đứng trước một nguy cơ thực tế là dần dần bị đẩy xa khỏi trung tâm văn hóa (trong khi truyền thống văn hóa Việt Nam in dấu ấn rõ ràng nhất trong văn học). Nó phải cạnh tranh quyết liệt với văn hóa nghe nhìn đang như con khủng long ngoạm dần thị phần sinh hoạt tinh thần của con người thời hiện đại.

Đầu tư của Nhà nước, dẫu tăng trong bối cảnh khó khăn chung của đất nước, dường như vẫn được chia đều theo tinh thần bình quân chủ nghĩa. Trong lúc âm nhạc hay điện ảnh đang được xã hội hóa ngày càng mạnh mẽ (nhưng vẫn ít hiệu quả), thì riêng văn học đang gặp muôn vàn khó khăn.

Không có tổ chức xã hội hay Mạnh Thường Quân nào dám đầu tư mạo hiểm vào văn học trong khi các văn bản chính thức đều ghi nhận “Văn học là phần tinh tế của văn hóa”. Đầu tư cho văn học là đầu tư chiến lược, đầu tư văn hóa. Bởi vì, nếu muốn giao lưu và hội nhập văn hóa thế giới trong bối cảnh hiện nay không có con đường nào tốt đẹp và hiệu quả hơn bằng/qua văn học. 

Văn học tinh hoa sẽ là nhịp cầu hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc khác nhau màu da, tiếng nói, thể chế chính trị. Nhưng cũng thật đáng lạc quan khi năm 2017, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phê duyệt Đề án “Đào tạo tài năng sáng tác văn học”. Trường Đại học Văn hóa Hà Nội và Khoa Viết văn - Báo chí được giao thực hiện Đề án này

Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội năm nay ghi dấu sự đột phá về mặt văn xuôi và phê bình khi có tới 4 tác phẩm đã đạt giải.

2. Nhìn từ một phía khác, văn học phải hiện diện qua tác phẩm. Nếu bình tĩnh và khách quan thì có thể nói về một năm văn học bình lặng, không có đột biến trong sáng tác trên tất cả khu vực văn xuôi, thơ, lý luận phê bình (“bao giờ cho đến ngày xưa” như những năm đầu Đổi mới và sau đó chừng dăm năm, đỉnh cao là Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1991, được gọi là một mùa bội thu). 

Tuy nhiên, trên tinh thần “có hoa mừng hoa có nụ mừng nụ”, “đãi cát tìm vàng” thì, cũng có thể gom góp đặt lên bàn cân một số tác phẩm thành công ở từng mặt được dư luận quan tâm. 

Nổi trội nhất vẫn là văn xuôi. Bạn đọc có thể chọn thưởng thức một số tiểu thuyết như “Đêm núm sen” của Trần Dần, “Cuộc vuông tròn” của Nguyễn Bắc Sơn, “Sáu ngày” của Tô Hải Vân, “Động thổ” của Lê Ngọc Minh, “Con chim Joong bay từ A đến J” của Đỗ Tiến Thụy, “Chim bằng và nghé hoa” của Bùi Việt Sỹ, “Kể xong rồi đi” của Nguyễn Bình Phương, “Đất khát” của Trác Diễm, “Núi Mẹ” của Nguyễn Đức Nguyên. Một số tập truyện ngắn gây được sự chú ý của bạn đọc như “Truyện ngắn hay dự thi báo Văn nghệ” (2015-2017), “Chuyến tàu sông cuối cùng” của Hà Phạm Phú, “Hoa hồng không ở cùng mắm tôm” của Kiều Bích Hậu, “Con chim phượng cuối cùng” của Nguyễn Thị Kim Hòa, “Một giải ngân hà” của Nguyễn Thị Bích Vượng,... Ký có vẻ vẫn còn mặn mà hơn cả với bạn đọc vì tiếp cận sự thật sâu sát hơn trong khi văn học hư cấu chưa đạt tới.

Một số tập ký gây ấn tượng như “Mùa chinh chiến ấy” của Đoàn Tuấn, “Hồi ức lính” của Vũ Công Chiến, “Ở đâu cũng có người Việt” của Nguyễn Đắc Như, “Ký ức khoai gieo” của Mai Nam Thắng, “Đừng kể tên tôi” của Phan Thúy Hà,...

Thơ có vẻ như kém cạnh hơn văn xuôi. Nhưng nói thế không có nghĩa là “không có thơ” như Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội 2017. Vẫn có vài ba tập thơ đứng được như “Những dấu ấn chưa qua”của Trần Ninh Hồ, “Cây xanh ngoài lời” của Hoàng Vũ Thuật, “Người đàn bà sinh ra từ mưa” của Hoàng Thụy Anh, “Phía sau tưởng tượng” của Mã Giang Lân, “Dắt tháng Mười về quê” của Lê Huy Mậu,... 

Lý luận phê bình lâu nay vẫn bị kêu là “thiếu và yếu”. Không sai. Nhưng phải thể tất vì công việc này nhọc nhằn không kém gì sáng tác. Đôi khi công sức bỏ ra thì vô kể, nhưng tác phẩm lại dễ rơi vào tình trạng muối bỏ bể khi xuất hiện. 

Một năm mà có được vài cuốn như “Bóng người trong bóng núi” (Phê bình – chân dung) của Lê Thành Nghị, “Trang sách, mạch đời” (Phê bình – đối thoại) của Phạm Khải (Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội, 2017) thì cũng đáng hoan hỷ, lạc quan. Thêm vài cây bút 7X, 8X như Hoàng Đăng Khoa với “Phiêu lưu chữ” (Phê bình), Nguyễn Thanh Tâm “Giới hạn của những huyền thoại” (Phê  bình) thì cũng đã thấy thêm tin tưởng vào tiền đồ lý luận, phê bình văn học.

3. Nhìn từ phía nhà văn và bạn đọc, cũng nổi cộm lên nhiều vấn đề. Ngày càng bộc lộ rõ “gót chân A-sin” của nhà văn. Người Việt bây giờ hình như đang chui sâu leo cao vào thế giới ảo. Nhà văn cũng thế. Tôi biết nhiều người trong văn giới, một ngày sống với facebook 5-6 tiếng đồng hồ. 

Còn thế giới thực, còn giông bão lụt lội, còn môi trường ô nhiễm, còn tội các bành trướng, còn giáo dục chuệch choạc, còn văn hóa cộng đồng bị bỏ lơi, còn những thứ thiết yếu thì rất... yếu. 

Cái phương châm “sống đã rồi hãy viết” xem ra chưa hề cũ. Nhiều nhà văn nói rất chân thành “thời đại internet cần gì phải đi thực tế”. Chúng ta chưa có nền văn học lớn xứng ngang tầm thời đại vì thiếu chân đế, căn cốt văn hóa. Cũng vậy, thiếu những văn tài như thời hoàng kim trước 1945, vì căn bản thiếu tầm tư tưởng và văn hóa. 

Và quan trọng hơn là thiếu những nhà văn, theo cách diễn đạt của Nguyễn Minh Châu “là người nặng nợ với cuộc đời và con người”. Nói một cách nghiêm túc và công bằng thì, chúng ta  đang có nhiều người viết văn hơn nhà văn, nghiêm trọng hơn khi cộng đồng gọi đó là “hội nhà văn già” (!?)

Nhìn từ phía bạn đọc, lại thấy gây cấn đối với sự phát triển văn học. Vì sao  sách ngôn tình, sex,  đồng tính,...lại có hấp lực với bạn đọc để rồi cuốn không ít nhà văn vào những cơn “bão từ” này?  Hãy nhớ lời của văn hào Nga Maxim Gorky “Công chúng nghệ thuật cũng cần phải được giáo dục”. 

Nghĩa là phải trang bị cho họ một kiến thức nghệ thuật căn bản, một lý tưởng thẩm mỹ đúng đắn, cao đẹp, phải hướng họ vào các giá trị “Chân – Thiện – Mỹ”. Chúng ta đang để cho cái tự phát lấn át cái tự giác trong sáng tác và hưởng thụ nghệ thuật, trong đó có văn học. Nhân danh cơ chế thị trường, người ta hô lên rằng chỉ cần bán được hàng, nhưng quên mất nghệ thuật là một thứ “hàng hóa đặc biệt”. 

Cổ nhân dạy, mất văn hóa là mất tất cả. Nhưng có vẻ như công chúng Việt hôm nay bất cần đến nguy cơ này. Họ thích dùng hàng hóa “ăn liền, một lần là xong”. Công chúng có tác dụng kích cầu sáng tác. Nhưng công chúng cũng là một “phản lực” với sáng tác. 

Một đạo diễn phim truyền hình có tiếng nói thẳng băng rằng, phim có nhiều người xem là phim hay (!?). Lấy số đông thưởng thức để đo giá trị nghệ thuật thì, khác nào nói cờ bạc là tốt vì có nhiều người say mê đến độ bán cốt lột xương, thân bại danh liệt, khuynh gia bại sản

Rất khó đong đếm, tính sổ trọn vẹn một năm văn học vì, có khi một tác phẩm xuất hiện năm nay, nhưng nó được ấp ủ, chuẩn bị từ trước đó cả chục năm. Lại có tác phẩm được hoàn thành cách hơn nửa thế kỷ nhưng nay mới có điều kiện công bố. 

Vì thế, đánh giá một năm văn học phải tất yếu đặt nó trong bối cảnh chung, nghĩa là cần xem xét nó trong dòng chảy của toàn bộ nền văn học đương thời, ít nhất cũng trong khoảng hạn mười năm một. Điều quan trọng nhất là, phải đặt văn học trong mối tương liên biện chứng với văn hóa, đánh giá thành tựu văn học từ góc nhìn văn hóa mới thấu triệt

Bùi Việt Thắng