Không biết khi viết bài thơ: Câu hò trên bến Hiền Lương (sau đó nhạc sỹ Hoàng Hiệp phổ thành ca khúc Câu hò bên bến Hiền Lương bất hủ), nhà thơ Đằng Giao có trực tiếp nghe một câu hò nào đó của người dân thôn Tùng Luật hay không. Chỉ biết rằng trong những năm chiến tranh, dưới đạn pháo quân thù, bên dòng sông giới tuyến này, có một câu hò như một nỗi đau lớn thỉnh thoảng lại gieo vào lòng người của dân làng Tùng: “Ơ… hờ… ơ… Bước tới bến Hiền Lương sao chặng đường nghẹn lại. Đáo tới bờ Bến Hải sao gác mái tình ơ duyên. Con sông kia đâu phải để chia cắt đôi miền. Hiềm vì lòng thù thâm độc nên ân ái đôi bên phải đợi chờ…”

Câu hò này theo thể hò mái nhì của Huế, những năm hai miền còn phân cách, nhiều cô gái làng Tùng (xã Vĩnh Giang, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) thường hò bên bến Hiền Lương. Mỗi người hò với một tâm trạng: có người thì hò trong nỗi đau về dở dang đôi lứa, có người hò để đả kích trực tiếp địch, cũng có những người hò để động viên bộ đội, nhưng đều trong tâm trạng chung là câu hò từ đáy tim của những người dân phải sống trong cảnh ngăn cách sơn hà.

Hẳn khó ai quên cô gái Gio Linh Nguyễn Thị Tình năm xưa, lần tiễn chồng ra Bắc tập kết cuối cùng phải chờ chồng trong vô vọng. Cô đã biến điều vô vọng ấy thành điều hy vọng, tham gia vào đội tuyên truyền bí mật ở bờ Nam sông Bến Hải. Năm 1957, cơ sở bị vỡ, cô bị địch đuổi, không còn con đường nào khác, cô nhảy xuống để bơi sang bờ bên kia. Sau khi sang sông, được sống trong cảnh đoàn tụ, ngày ngày cô vẫn ra bến Hiền Lương hò câu hò ấy như để đồng cảm với một nỗi đau cùng toàn thể đồng bào.

Trong chiến tranh, ở bờ Bắc sông Bến Hải là thế, mỗi người góp một câu hò phản chiến thành một làng dân ca. Bên cạnh những đóng góp sức người sức của của những người dân Vĩnh Linh, những lời ca ấy còn là một vũ khí lớn lao, có thể có sức mạnh hơn súng đạn.

NSƯT Nguyễn Ái Chủng, một người dân thôn Tùng Luật, từng là một người hát địch vận suốt những năm chiến tranh cho biết: "Khi mình tuyên truyền miệng bằng lời nói thì chúng cứ nã súng ào ạt vào loa, chứ mình cất lên một điệu hò câu hát thì nó làm thinh và gióng tai nghe mình hát".

Sự thăng trầm của làng dân ca Tùng Luật gắn với cuộc đời đầy thăng trầm của những nghệ nhân và của cuộc sống đầy biến cố. Người dân Tùng Luật vốn quen với sông nước, nên có một dòng văn hoá âm thầm chảy qua các thế hệ, chảy nhẹ nhàng, khiêm tốn, bình dị: Đó là chèo cạn. Đội chèo cạn gồm có 15 người, một ông lái, một ông mũi, một ông tát nước và 12 người chèo hay còn gọi là "ba trạo". Chèo cạn được hiểu là một sinh hoạt dân gian của những ngư dân để cầu trời yên sóng lặng, vì thế ngôn ngữ của chèo cạn đều rất dân dã. Chèo cạn ở thôn Tùng Luật bây giờ chỉ còn là một nét đẹp xưa hồn hậu trong cuộc sống của những ngư dân thuở xa xưa mà số ít ỏi lớp con cháu (đa số bây giờ đã trên 80 tuổi) vẫn mang theo...

Tương truyền, vào những năm cuối thế kỷ XIX, có một người tên là Nguyễn Như Bá làm nghề thầy thuốc lưu lạc 9 năm trời ở lục tỉnh miền Tây và ở Huế, đã học được một số ngón đàn hát của những người dân ở những vùng đất mà ông đã đi qua. Ông trở về thôn Tùng Luật với một tài sản là hát tuồng và ca Huế và hàng ngày mở một lớp dạy cho con cháu. Trong số học trò của ông có một học trò rất khá, đồng thời cũng là con gái của cụ tên là Nguyễn Thị Hạnh (mẹ của NSND Lệ Thi) và cụ Bùi Mè (bố của NSND Châu Loan) và sau khi mãn khoá học, cụ Bá thành lập một gánh hát bội đi diễn khắp phủ Vĩnh Linh, huyện Gio Linh.

Một lần Tri phủ Vĩnh Linh tên là Võ Thiếu Trinh người Quảng Ngãi về thôn Tùng Luật kinh lý, gặp cô Hạnh hát hay lại xinh đẹp, ông lấy làm vợ. Thời gian sau cô Hạnh theo chồng về Quảng Ngãi, có đem theo một người cháu chính là NSƯT Nguyễn Ái Chủng bây giờ. Nhà tuy giàu có nhưng Tri phủ Võ Thiếu Trinh vẫn chiều theo niềm đam mê của vợ là muốn thành lập một gánh hát bội. Gánh hát này vừa hát vừa học hỏi những âm sắc lạ của tuồng xứ Quảng, học hát bài chòi nên có thể hát được nhiều thể loại và người dân rất thích.

Năm 1946, bà Hạnh về thăm quê. Bà rất đau lòng khi chứng kiến một vụ hỏa hoạn giáng lên quê hương bà, cướp đi mạng sống của nửa số dân trong làng. Bà cùng con cháu và vào Huế gọi thêm một số kép thành lập một đội tuồng hát để ủng hộ những gia đình hỏa hoạn. Gánh hát đi đến đâu, nhân dân hưởng ứng đến đấy. Sau khi hát được một khoản tiền kha khá, bà đã ủng hộ hết những người dân làng Tùng rồi tiếp tục một chặng hành trình mới để sau đó về Quảng Ngãi. Nhưng khi ra đến Lệ Thủy, gánh hát bị mất trộm và phải giải tán, bà Hạnh trở về Quảng Ngãi.

Nhưng không vì thế mà những lời ca lại tắt đi theo sự vỡ tan của một gánh hát, và cũng không vì thế mà niềm đam mê với những khúc ca xưa trong tâm hồn những người dân làng Tùng phải dừng lại. Những người dân vẫn hát trong nhịp sống hàng ngày, trong những lời ru con, trong những dịp văn nghệ hội làng và hát ân tình trong suốt những năm tháng đạn bom quân thù không ngớt dội xuống miền đất giới tuyến này. Còn ông Nguyễn Ái Chủng năm 1953 đi bộ đội, nhờ giọng ca mà được bổ sung vào Đoàn văn công Quân khu IV làm một người quản ca suốt ngày bắt nhịp cho bộ đội cùng hát và sau đó là một chặng hành trình 15 năm đi hát địch vận ở khu vực giới tuyến. Tháng 4/1969, ông được vinh dự cùng đoàn ra Hà Nội báo cáo với Quốc hội về phong trào "Tiếng hát át tiếng bom" ở Vĩnh Linh.

Vừa qua, ngành Văn hóa thông tin huyện Vĩnh Linh đã mở một lớp dạy dân ca cho nhân dân toàn huyện. Tiếc là những nghệ sĩ trưởng thành từ mảnh đất hát này không còn nhiều: NSND Châu Loan đã qua đời trong trận Mỹ ném bom B52 xuống Hà Nội năm 1972; NSND Võ Thị Lệ Thi giờ đang sống ở Tp. Hồ Chí Minh. Còn ca sĩ Hương Mơ, một người con được sinh ra tại làng Tùng Luật này, vẫn chung thủy với những điệu hò ở miền đất mẹ và bền bỉ với làn điệu dân ca thì mải miết với việc lập nghiệp ở Hà Nội. Chỉ có NSƯT Nguyễn Ái Chủng, sau khi nghỉ hưu vẫn thủy chung với những điệu dân ca làng mình. Khi được mời đi dạy hát cho những người dân quê mình, ông nhận lời ngay và ông cảm thấy đó là một điều hạnh phúc. 75 tuổi, ông hát vẫn còn hay lắm, vẫn còn tha thiết lắm. Đúng là dân ca không bao giờ có tuổi, không bao giờ là xưa, là cũ. Như là làng Tùng Luật quê ông, trải qua bao mất mát đau thương, vẫn còn giữ lại những lời ca đằm thắm, thiết tha, để những câu hò bên bến Hiền Lương vẫn mãi đắm say lòng người..

Hoàng Nguyên Vũ