Điều 52 Hiến pháp năm 2013 cũng xác định yêu cầu “thúc đẩy liên kết kinh tế vùng”. Việc đưa “liên kết vùng” vào Hiến pháp và “điều phối liên kết vùng” vào dự thảo Văn kiện Đại hội lần này là kết quả tổng kết thực tiễn, kiểm nghiệm và phát triển lý luận về phát triển vùng, liên kết vùng thời gian qua, cần được thảo luận, thống nhất trong nhận thức và triển khai thực hiện Nghị quyết sắp tới.

Liên kết vùng – mệnh lệnh thực tiễn và yêu cầu hội nhập

Liên tục trong các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX, X và XI đều có nội dung “phát triển vùng, lãnh thổ”. Cương lĩnh Đại hội Đảng XI (năm 2011) nêu định hướng lớn về phát triển vùng. Chiến lược phát triển KT-XH đất nước, giai đoạn 2011-2020 cũng có những nội dung định hướng phát triển vùng và liên kết vùng.

Nếu mãi tồn tại tình trạng mạnh ai nấy làm, nông dân vẫn sẽ là người chịu thiệt đầu tiên.

Trong quy hoạch và đầu tư đã có sự tiếp cận và thực hiện theo vùng. Ban Chỉ đạo, điều phối 4 vùng kinh tế trọng điểm (phía  Bắc, miền Trung – Tây Nguyên, phía Nam và ĐBSCL), các Ban Chỉ đạo: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ cũng đã được thành lập ở các địa bàn chiến lược, góp phần quan trọng trong chỉ đạo, phát triển vùng.

Tuy nhiên, các Ban Chỉ đạo này mới thực hiện chức năng tham mưu, đề xuất, kiểm tra, đôn đốc, chứ chưa được trao quyền lực trong việc ra quyết định. Thời gian qua, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ đã quan tâm, phối hợp với các Bộ, Ban, ngành Trung ương, các địa phương, các Viện, Trường xây dựng và trình đề án liên kết vùng ĐBSCL, dự thảo cơ chế thí điểm điều phối liên kết vùng và các cơ chế, chính sách có liên quan.

Song, thực tiễn đang đặt ra nhiều vấn đề cần hoàn thiện, đặc biệt là cần có cơ chế pháp lí về liên kết vùng hiệu quả, thiết thực và hình thành tổ chức có thực quyền điều phối liên kết vùng. Bàn về “Cơ chế điều phối liên kết vùng” không chỉ đóng góp cho văn kiện đại hội, mà còn góp phần tăng cường liên kết, chủ động hội nhập quốc tế, ứng phó biến đổi khí hậu, khắc phục tình trạng không gian kinh tế vùng bị chia cắt theo địa giới hành chính tỉnh, một mệnh lệnh từ thực tiễn và là yêu cầu hội nhập.

Tổ chức thí điểm cơ chế điều phối liên kết vùng ĐBSCL

Liên kết vùng không chỉ luẩn quẩn trong phạm vi “liên kết chính quyền” với các chương trình hợp tác giữa các địa phương với nhau như vừa qua, mà cần đẩy mạnh liên kết thị trường, liên kết doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh theo các mô hình sản xuất mới, ưu tiên các chuỗi giá trị sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ chủ lực của từng vùng.

Để đảm bảo hiệu quả thực sự của hoạt động liên kết và điều phối có trọng tâm, trọng điểm, cần chọn thí điểm thực hiện theo những lĩnh vực đột phá và nội dung ưu tiên. Theo đó, đề xuất tổ chức thí điểm “cơ chế điều phối liên kết vùng ở ĐBSCL”, chọn 2 lĩnh vực ưu tiên. Một là, liên kết trong lĩnh vực nông nghiệp bền vững, bao gồm: Sản xuất, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị các nông sản chủ lực vùng như lúa gạo, trái cây, tôm, cá tra. Liên kết phát triển thị trường; tạo thương hiệu cho các sản phẩm chủ lực. Nâng cao năng lực cho nông dân tham gia các chuỗi giá trị, đa dạng ngành nghề, nâng cao sinh kế, tạo việc làm, tăng thu nhập, chất lượng cuộc sống người dân.

Hai là, hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, bao gồm: xây dựng, nâng cấp hạ tầng giao thông, thủy lợi, hệ thống đê bảo vệ bờ biển; vành đai rừng ngập mặn ven biển. 4 nội dung ưu tiên điều phối liên kết vùng ĐBSCL: Một là, điều phối liên kết xây dựng quy hoạch, kế hoạch, gồm: xây dựng, rà soát, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung quy hoạch vùng thay cho các quy hoạch “cắt khúc” của từng tỉnh. Hai là, điều phối liên kết trong đầu tư, lập danh mục các chương trình, dự án, công trình cấp vùng và mang tính chất vùng cần ưu tiên đầu tư; dự kiến phân bổ nguồn lực và phối hợp thực hiện. Ba là, điều phối liên kết xây dựng cơ chế chính sách, bao gồm: xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách đồng bộ. Xây dựng cơ chế, chính sách phân chia quyền lợi về thuế, đầu tư và các nguồn lực khác (nếu có) cho địa phương không được hưởng lợi trong thời gian thực hiện thí điểm điều phối liên kết vùng. Xây dựng, ban hành bộ tiêu chí theo dõi và đánh giá các hoạt động điều phối liên kết vùng. Bốn là, thiết lập hệ thống thông tin vùng. Theo đó, xây dựng cơ sở dữ liệu và thông tin vùng; thông tin về các hoạt động hợp tác đầu tư, cơ chế, chính sách, dự báo thị trường; về các chương trình liên kết nâng cao sức chống chịu của cư dân do tác động của biến đổi khí hậu.

Dự thảo văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII đề ra nhiệm vụ “sớm xây dựng cơ chế điều phối liên kết vùng”. Nếu nội dung này được thông qua sẽ là cơ sở, định hướng quan trọng trong việc thể chế hóa cơ chế điều phối liên kết vùng ĐBSCL trong nhiệm kỳ tới. Hoạt động điều phối này cần hướng vào yêu cầu nâng cao thực quyền chỉ đạo, điều phối, giám sát, đánh giá hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá, các chương trình, dự án trọng điểm phát triển vùng mà các Bộ, ngành Trung ương và địa phương triển khai thực hiện.

ThS Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ