Thông tư cũng quy định đơn đủ điều kiện xử lý bao gồm: đơn dùng chữ viết là tiếng Việt và được người khiếu nại, tố cáo, người kiến nghị, phản ánh ghi rõ ngày, tháng, năm viết đơn, họ, tên, địa chỉ, chữ ký hoặc chỉ điểm của người viết đơn; Đơn khiếu nại phải ghi rõ tên, địa chỉ cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân bị khiếu nại, nội dung, lý do khiếu nại và yêu cầu của người khiếu nại; Đơn tố cáo phải ghi rõ nội dung tố cáo; cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân bị tố cáo, hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo; Đơn kiến nghị, phản ánh phải ghi rõ nội dung kiến nghị, phản ánh; Đơn chưa được cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận đơn xử lý theo quy định của pháp luật hoặc đã được xử lý nhưng người khiếu nại, tố cáo được quyền khiếu nại, tố cáo tiếp theo quy định của pháp luật. Đơn không đủ điều kiện xử lý bao gồm: Đơn không đáp ứng các yêu cầu đã nêu trên; Đơn đã được gửi cho nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân, trong đó đã gửi đến đúng cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc đúng người có thẩm quyền giải quyết; Đơn đã được hướng dẫn một lần về cùng nội dung.

Một điểm mới đáng chú ý Điều 19, Thông tư này cũng quy định rõ: Khi nhận được đơn tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo nhưng có nội dung rõ ràng, kèm theo các thông tin, tài liệu, bằng chứng về hành vi tham nhũng, hành vi tội phạm thì người xử lý đơn báo cáo thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị xử lý theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, pháp luật tố tụng hình sự.

Thông tư có hiệu lực từ 15/12/201.

P V