LTS: Tự do báo chí theo kiểu phương Tây là khái niệm mà nhiều người vin vào để phê phán nền báo chí cách mạng Việt Nam, từ đó lấy cớ chống phá Đảng, Nhà nước ta. Tuy nhiên, có thực tế là rất nhiều “yêng hùng bàn phím” nói về tự do báo chí thao thao bất tuyệt như thể họ là “chuyên gia”, song kỳ thực, phần lớn số này chưa bao giờ trải nghiệm thực tế tự do báo chí ở phương Tây để hiểu sự thể ra làm sao, từ đó mới có vốn sống so sánh với báo chí nước nhà. Chúng tôi xin đăng bài viết của tác giả Hồ Ngọc Thắng, hiện đang sinh sống tại CHLB Đức, có nhiều thời gian tìm hiểu, tiếp xúc, làm việc với cơ quan báo chí phương Tây, qua đó cho thấy hiện thực không như nhiều người lầm tưởng.

Quy định pháp lý về tự do ngôn luận và báo chí ở các nước phương Tây về cơ bản là giống nhau, đôi khi cả về hoàn cảnh lịch sử. Thí dụ, theo Hiến pháp Hoa Kỳ, có hiệu lực từ năm 1791, thì Quốc hội Mỹ không được phép ban hành bất cứ văn bản nào hạn chế tự do ngôn luận và báo chí. Nhưng theo một đạo luật của năm 1798 thì sẽ là tội phạm nếu viết, in, phát biểu và phổ biến những văn bản sai sự thật, cố ý xúc phạm hay chống lại chính quyền.

Ðể truy cứu trách nhiệm hình sự vì vi phạm lĩnh vực này, Ðiều 2385, Chương 115, Bộ luật Hình sự Mỹ ghi rõ: Nghiêm cấm mọi hành vi in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu viết hoặc in nào có nội dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm, sự cần thiết tham vọng, tính đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào tại Mỹ bằng vũ lực hay bạo lực.

Còn ở Pháp, trong tiến trình Cách mạng 1789, tự do báo chí đã được đề cập, cụ thể là trong Ðiều 11 Tuyên bố dân quyền và nhân quyền. Về sau, tinh thần của Ðiều 11 cũng là một trong các cơ sở cho sự ra đời của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 và Hiệp ước nhân quyền châu Âu năm 1950. Một đạo luật về tự do báo chí cũng được ban hành trong Nền cộng hòa thứ ba vào ngày 29/7/1881. Ðạo luật 1881 cũng nêu rõ các giới hạn trong tự do báo chí vì sự lạm dụng tự do, cụ thể là đưa ra các định nghĩa về tội phạm báo chí. Về cơ bản, cho đến nay đạo luật này vẫn còn giá trị.

Ở Pháp cũng như ở các nước phương Tây khác, tự do báo chí trước tiên không phải là vấn đề văn bản pháp lý liên quan, mà là việc thực thi. Mấy năm trước, khi Tổng thống Nicolas Sarkozy còn đương nhiệm, một cuộc cải cách đã được thực hiện, theo đó việc lựa chọn các giám đốc của một số đài phát thanh và truyền hình do tổng thống quyết định. Ở Pháp, những năm qua, một số nhà báo đã gặp khó khăn với Cảnh sát và cơ quan tư pháp. Trong nhiều cuộc biểu tình, một số nhà báo bị bắt, các hình ảnh họ chụp hay thu được bị tịch thu.

Nhưng bê bối lớn nhất là việc phanh phui cơ quan tình báo Pháp do thám, nghe trộm điện thoại của các nhà báo làm việc cho nhật báo Le Monde năm 2011. Các phương tiện truyền thông cho rằng, trong việc này, Chính phủ Pháp đã cố ý nói dối và vi phạm tự do báo chí có hệ thống (?!).

Nhìn sang một nước khác - Italia, theo đánh giá của một số tổ chức quốc tế thì tình hình tự do báo chí trong các năm gần đây khá phức tạp. Thị trường báo chí được chia thành bốn nhóm, gồm: nhóm Editoriale LEspresso (La Republica), nhóm Ridoli với chủ sở hữu chính là gia đình La Stampa, nhóm các nhà xuất bản độc lập (II Giorno) và nhóm Becluscolni.

Nhiều người lo ngại trước “tiến trình Becluscolni” toàn bộ hệ thống truyền thông ở Italia. Về phần mình, các chính phủ ở Italia cũng tìm cách gây áp lực với báo chí. Thí dụ, năm 2011 một dự thảo luật được đưa ra bàn bạc, theo đó thì nhà báo (rất khác với các cá nhân khác) có thể bị phạt tù vì tội vu khống. Ðặc biệt là ở Italia nhiều nhà báo đã bị đe dọa đến tính mạng, nếu họ viết về tội phạm và hoạt động của mafia.

Ở CHLB Ðức, theo quy định của Ðiều 5 Ðạo luật cơ bản (tức Hiến pháp) thì mọi người có quyền thể hiện quan điểm của mình qua hình ảnh, lời phát biểu, bài viết trên sách báo, hay phát tán qua phát thanh, truyền hình; vì tự do báo chí là một phần của tự do ngôn luận. Trong đó cũng ghi rõ “không có sự kiểm duyệt”, nhưng điều đó không có nghĩa, người viết hoàn toàn tự do, không cần phải quan tâm tới các quy định pháp lý.

Theo các nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp CHLB Ðức, các quy định cụ thể về tự do báo chí lại thuộc về thẩm quyền của các tiểu bang. Vì vậy, mỗi tiểu bang đều có Luật Báo chí (Pressegesetz) riêng. Cơ sở pháp lý trực tiếp nhất của Luật Báo chí là Hiến pháp tiểu bang. Vì thế, Luật Báo chí không chỉ ghi cụ thể các quyền lợi, trách nhiệm mà cả giới hạn của báo chí phù hợp với hoàn cảnh đặc thù của khu vực mình.

Thí dụ, Ðiều 1 Luật Báo chí ở tiểu bang Bavaria ghi rõ: Tự do ngôn luận và báo chí được bảo đảm qua các Ðiều 110, 111, 112 Hiến pháp Bavaria. Cần lưu ý, trong khoản 1, Ðiều 110 của Hiến pháp này viết về tự do ngôn luận và báo chí, song trong khoản 2 lại ghi rõ: Chống lại các loại văn chương bẩn thỉu và độc hại là nhiệm vụ của Nhà nước và các cơ quan địa phương. Luật Báo chí của các tiểu bang tuy có một số điểm khác nhau, nhưng có một điểm rất giống nhau, như ở Tiểu bang Bavaria, điểm đó được ghi trong Ðiều 117 của Hiến pháp: Sự hưởng thụ tự do cho mỗi người đều phụ thuộc vào việc tất cả mọi người thực hiện nghĩa vụ trung thành với nhân dân, Hiến pháp, Nhà nước và luật pháp.

Ðể cụ thể hóa giới hạn về quyền tự do báo chí, có nhiều quy định cụ thể được ban hành trong các bộ luật của liên bang. Bên cạnh Cảnh sát hình sự liên bang và tiểu bang, ở CHLB Ðức còn có lực lượng của các cơ quan bảo vệ Hiến pháp cấp liên bang và tiểu bang. Ðây là các cơ quan tình báo đối nội. Trong các cơ quan này, có một lực lượng không nhỏ hằng ngày chuyên đọc sách báo, tin tức do các cá nhân và tổ chức phát tán trên mạng để thu thập tin tức và bằng chứng, khi cần thiết sẽ phục vụ cho các thủ tục xét xử hình sự. Ðể ngăn ngừa những mối nguy hiểm từ các phương tiện truyền thông đối với thanh, thiếu niên, một cơ quan thanh tra liên bang đã được thành lập. Trừ các nhật báo và tạp chí chính trị, các ấn phẩm còn lại đều có thể bị cơ quan này kiểm duyệt và xử lý theo quy định…

Như vậy, sự hiểu biết về tự do ngôn luận, tự do báo chí ở phương Tây sẽ giúp chúng ta nhìn nhận và đánh giá khách quan về tự do báo chí ở Việt Nam. Một sự thật không thể phủ nhận là tình hình nhân quyền ở Việt Nam nói chung, tự do ngôn luận, báo chí nói riêng, đã liên tục được cải thiện, phát triển trong các thập niên vừa qua.

Trên cơ sở đó, không thể chấp nhận hiện tượng một số cá nhân tự cho mình là “nhà báo độc lập”, rồi đưa ra ý kiến thiếu xây dựng. Bởi không thể coi là nhà báo, dù là “nhà báo độc lập”(!) khi chỉ đưa ra các tin tức và bình luận sai sự thật theo kiểu “không ưa thì dưa có giòi” để nói xấu chính quyền, phủ nhận những thành tựu mà chính họ đang được thụ hưởng.

Hồ Ngọc Thắng (CHLB Ðức)