Ngoài TPP luôn ở dạng kỳ vọng dù rất được chú ý, Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) với các đối tác quan trọng khác. 

Lãnh đạo Vụ Thương mại đa biên cho biết, Việt Nam đã hưởng nhiều lợi ích hơn từ các FTA này, biểu hiện cụ thể là tỷ lệ doanh nghiệp tận dụng được ưu đãi đang tăng dần lên (FTA Việt Nam - Hàn Quốc là trên 80%, FTA Việt Nam - Chile là trên 60%...). Tuy nhiên, đáng chú ý là hoạt động thương mại giữa Việt Nam với các đối tác rất gần gũi trong khu vực ASEAN lại đang chững lại. 

Tại phiên họp của Ủy ban hồi tháng 9 năm ngoái, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã đề nghị phân tích lý do của hiện tượng này.

Trả lời câu hỏi này, đại diện Vụ Thương mại đa biên cho biết: Về khách quan, có tâm lý chung trong các nước ASEAN là tăng cường khả năng sản xuất chung, thu hút đầu tư từ ngoài khối để phục vụ xuất khẩu sang các thị trường khác. 

Số phận của TPP đang được các nước còn lại (ngoài Mỹ) bàn thảo.

Ông Lương Hoàng Thái ví von “Hình tượng ASEAN là hình tượng của bó lúa, chụm lại ở gốc, nhưng ngọn hướng ra bên ngoài. Tỉ lệ thương mại nội khối trước đây là 25% nhưng nay đã giảm đi một nửa. Trong khi Hiệp định thương mại tự do khu vực Bắc Mỹ (NAFTA) rất coi trọng sản xuất, thương mại trong nội khối (khi chưa hình thành NAFTA, tỷ lệ này đã là 50%), thì đối với ASEAN, ý tưởng hình thành khối là hình thành không gian sản xuất chung, nhưng hướng ra ngoài”.

Về chủ quan, có lý do bởi việc cơ cấu sản xuất của Việt Nam tương đối giống với các nước ASEAN khác - “Họ làm gì ta cũng làm cái đó”, cùng với việc năng lực tận dụng các cơ hội để xuất khẩu vào thị trường các nước trong khu vực của doanh nghiệp thấp. 

Điều này thể hiện ở chỉ số doanh nghiệp tận dụng ưu đãi chỉ ở mức 30% (mặc dù tăng so với mức 10% trước đây). Nguyên nhân do chính các doanh nghiệp trong nước chú trọng sản xuất hướng tới các thị trường khác, chứ chưa đặt mục tiêu thâm nhập vào thị trường ASEAN.

Bên cạnh đó, không thể không kể đến lý do các nước ASEAN cũng dựng lên các hàng rào bảo hộ thương mại. Xu hướng này được dự báo là sẽ tăng lên trong thời gian tới; Chính phủ, các bộ, ngành cần chú trọng hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua rào cản này.

Chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong công tác hội nhập quốc tế của Việt Nam như: việc phối hợp để xây dựng các chương trình, kế hoạch về hội nhập kinh tế quốc tế vẫn còn lỏng lẻo, còn nặng tư tưởng cơ quan chủ trì phải chịu trách nhiệm chính, cơ quan phối hợp đôi khi chỉ tham gia một cách hình thức, thậm chí không tham gia; còn hơn 70 thủ tục quản lý, kiểm tra chuyên ngành với hàng hóa xuất nhập khẩu gây vướng mắc, khó khăn cho doanh nghiệp, cần sớm được sửa đổi, bổ sung... 

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đề nghị, Ban Chỉ đạo chủ trì, phối hợp và sử dụng hiệu quả Nhóm Hỗ trợ kỹ thuật, Nhóm Chuyên gia tư vấn để tăng cường hơn nữa công tác nghiên cứu, dự báo về những vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và đàm phán các FTA nói riêng, từ đó đề xuất chính sách cho giai đoạn hội nhập từ nay và trong 10 năm tới. 

Các trọng tâm được chú ý trong thời gian tới là tác động của xu thế bảo hộ thương mại trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương; việc Mỹ rút khỏi TPP và khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam; tác động của lộ trình xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN; vấn đề rào cản phi thuế quan và thuận lợi hóa thương mại trong thúc đẩy thương mại nội khối ASEAN; thúc đẩy thương mại với một số nước Trung Đông, châu Phi vốn là thị trường mà Việt Nam còn để ngỏ; nghiên cứu thêm các chính sách phòng vệ thương mại khi Quốc hội sẽ thảo luận và xem xét thông qua Luật Quản lý ngoại thương trong thời gian tới...

Vũ Hân