Tại hội thảo, các doanh nghiệp (DN) với nhiều ngành nghề và đại diện các Hiệp hội DN tham dự khá đông, tại đây họ đã bày tỏ nhiều nỗi bức xúc, băn khoăn trước thực trạng có quá nhiều quy định về KTCN còn bất hợp lý, nhiều văn bản chồng chéo và bị coi là cứng nhắc giữa các bộ, ngành với khâu KTCN các hàng hóa XNK. Điều này theo nhiều DN không những làm mất nhiều thời gian thông quan, mà còn đang khiến các đơn vị phải bỏ chi phí lên tới tiền tỷ mỗi năm.

Tại hội thảo, bà Trịnh Tú Anh, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại và Xây dựng An Đô cho biết, mỗi năm công ty bà phải bỏ từ 700 triệu tới 1 tỷ đồng tiền KTCN với mặt hàng vải nhập khẩu. 

Theo bà Tú Anh, việc kiểm tra được lặp đi lặp lại có khi với những mẫu hàng giống nhau. “Một tuần có khi chúng tôi phải kiểm tra 6 mẫu vải giống hệt nhau”, bà Tú Anh nói. 

Bên cạnh đó, một container hàng của công ty có thể gồm rất nhiều loại vải, có loại nhiều hàng nhưng có loại chỉ một vài cuộn. Tuy nhiên, quy định hiện tại yêu cầu phải kiểm tra 100% với những mặt hàng này không phân biệt giá trị, khối lượng. Điều này theo bà khiến mỗi lần kiểm tra có khi doanh nghiệp bà phải trả chi phí cho hàng chục loại. Hay những vướng mắc thực hiện Thông tư 12/2015/TT-BCT quy định việc áp dụng chế độ cấp giấy phép nhập khẩu tự động đối với một số sản phẩm thép cũng gây không ít khó khăn cho DN. 

Đại diện Công ty TNHH Công nghiệp Brother Việt Nam cho biết, là đơn vị chế xuất nhập khẩu sản phẩm thép từ DN nội địa, thì DN chế xuất có phải xin giấy phép nhập khẩu không? DN chế xuất nhập khẩu sản phẩm thép từ DN chế xuất khác và lựa chọn không thực hiện thủ tục hải quan, thì có phải xin giấy phép nhập khẩu tự động không?

Theo báo cáo của Chi cục Hải quan Cảng Hải Phòng Khu vực I, tỷ lệ các lô hàng nhập khẩu phải thực hiện thủ tục KTCN so với tổng số tờ khai nhập khẩu năm 2014 là 42,2%, 6 tháng đầu năm 2015 là 44,56% (tăng 2,36% so với 2014). Các đơn vị Hải quan (Hải quan TP HCM, Bình Dương, Hải Phòng, Hà Nội) và một số DN, các cơ quan đơn vị trên đều cho biết: mặc dù việc kiểm tra là rất nhiều, nhưng tỷ lệ các trường hợp không đạt yêu cầu XNK là rất ít, luôn ở mức dưới 1% tổng số các lô hàng XNK. Kết quả này cho thấy, việc kiểm tra như hiện nay là quá mức cần thiết...

Trước những vướng mắc của DN, ông Phạm Thanh Bình, chuyên gia Dự án quản trị Nhà nước nhằm tăng trưởng toàn diện của USAID cho rằng, những quy định chồng chéo, không thống nhất đang làm khó người thực hiện. Đơn cử cùng một luật như Luật An toàn thực phẩm, nhưng các bộ lại có cách hiểu khác nhau, thậm chí, cùng một quy định, mỗi đơn vị lại áp dụng một khác.

Ở góc độ quản lý, Phó Cục trưởng Cục Giám sát quản lý về hải quan, Tổng cục Hải quan Ngô Minh Hải cho rằng, “thực tế, hệ thống văn bản quá nhiều, nhưng có nơi lại thiếu”.

Theo ông Hải, đơn cử như văn bản về danh mục động vật phải kiểm dịch. Trong khi đó, Luật Thú y vừa được thông qua mới đây, nhưng danh mục này vẫn đang trong quá trình xây dựng. Trong khi danh mục cũ được xây dựng từ năm 2006 đã cũ và thực tế đã hết giá trị hiệu lực. Đây là những quy định được ông cho biết đang được cơ quan chức năng tính tới trong đề án nâng cao hiệu quả hoạt động KTCN với hàng hóa XNK. Phía cơ quan quản lý cũng sẽ rà soát, công bố danh mục hàng hóa thuộc diện kiểm dịch, kiểm tra an toàn thực phẩm, chất lượng,... và công khai các quy định về thủ tục, hồ sơ. 

Với danh mục hàng hóa phải kiểm tra, ông Phạm Thanh Bình cho rằng cần đổi mới cách làm và loại trừ những mặt hàng không nhất thiết kiểm tra. Không nên quy định kiểm tra cả một nhóm hàng như phân bón hay thép mà cần chi tiết loại phân bón, loại thép nào phải kiểm tra. Đồng thời kiến nghị cơ quan Nhà nước cần điện tử hóa thủ tục quản lý chuyên ngành, để giảm tối thiểu giấy tờ và rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục hành chính.

Lưu Hiệp