Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB) tại báo cáo Môi trường kinh doanh, xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam trong những năm gần đây liên tục tăng. Trong đó xếp hạng về chỉ số giao dịch thương mại qua biên giới năm 2016 tăng 15 bậc, năm 2017 giảm 1 bậc. Liên tục trong các năm 2016, 2017 Việt Nam giữ vững vị trí thứ 4 trong 10 nước ASEAN về chỉ số giao dịch thương mại qua biên giới với thời gian và chi phí đối với hàng hóa XK, NK đều có sự chuyển biến tích cực so với năm trước.

Tuy nhiên, năm 2018, chỉ số giao dịch thương mại qua biên giới giảm 6 bậc (từ vị trí 94 lên đến vị trí 100/190 nước) và đứng thứ 5 trong ASEAN. Nguyên nhân khách quan do một số quốc gia có sự cải thiện vượt bậc về hoạt động giao thương hàng hóa qua biên giới.

Theo phân tích của WB, chỉ số giao dịch thương mại qua biên giới bao gồm nhiều chỉ số thành phần thuộc phạm vi quản lý của nhiều đơn vị liên quan gồm: Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan); các cơ quan quản lý chuyên ngành; doanh nghiệp kinh doanh kho bãi cảng, bốc xếp dỡ tại cảng, cửa khẩu; doanh nghiệp vận tải, logistic; cộng đồng doanh nghiệp XNK. Để có thể cải thiện xếp hạng chỉ số, không chỉ gồm giải pháp của Bộ Tài chính mà cần có tham gia tích cực, sự nỗ lực, cố gắng của các cơ quan quản lý chuyên ngành, DN kinh doanh kho bãi cảng, DN logistic và cộng đồng DN nhằm triển khai đồng bộ các giải pháp giảm thời gian và chi phí giao dịch thương mại qua biên giới.

Phân tích chi tiết về thời gian và chi phí giao dịch thương mại qua biên giới tại báo cáo “Ưu tiên cải cách nhằm giảm chi phí thương mại và tăng cường năng lực cạnh trạnh của Việt Nam” của WB (tháng 7-2018) cho thấy, thời gian thuộc trách nhiệm của cơ quan Hải quan chỉ chiếm 11% đối với hàng NK, 4% đối với hàng XK trong tổng thời gian XNK qua biên giới.

Tổng cục Hải quan đang xây dựng các kế hoạch chi tiết thực hiện các giải pháp nâng hạng chỉ số giao dịch thương mại qua biên giới.

Thời gian thuộc trách nhiệm của đơn vị xếp dỡ, lưu kho tại cảng và logistic chiếm 28% đối với hàng nhập và 50% đối với hàng xuất. Thời gian thuộc trách nhiệm của cơ quan kiểm tra chuyên ngành là rất lớn, trong đó thời gian tuân thủ về chứng từ đối với kiểm tra chuyên ngành (thời gian chuẩn bị hồ sơ xuất XNK) và thời gian tuân thủ tại cửa khẩu đối với cơ quan ngoài hải quan (thời gian kiểm tra và ra báo cáo kiểm tra chất lượng) chiếm đến 61% đối với hàng nhập; 46% đối với hàng xuất.

Bên cạnh đó, chi phí liên quan đến kiểm tra hải quan và chi phí thuê môi giới hải quan chỉ chiếm 11% đối với hàng nhập và 10% đối với hàng xuất trong tổng chi phí xuất nhập khẩu qua biên giới; trong khi đó, chi phí xếp dỡ, lưu kho tại cảng và chi phí logistic chiếm đến 64% đối với hàng nhập, 63% đối với hàng xuất. Chi phí thực hiện thủ tục tuân thủ kiểm tra chuyên ngành (chi phí chuẩn bị hồ sơ XNK) và chi phí kiểm tra chất lượng chiếm 25% đối với hàng nhập, 27% đối với hàng xuất.

Ông Kim Long Biên, Vụ trưởng, Phó Trưởng ban Cải cách hiện đại hóa (Tổng cục Hải quan) cho biết, hiện tại Tổng cục Hải quan đang xây dựng các kế hoạch chi tiết thực hiện các giải pháp nâng hạng chỉ số Giao dịch thương mại qua biên giới để trình Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Để xây dựng, triển khai các giải pháp nâng cao chỉ xếp hạng chỉ số giao dịch thương mại qua biên giới, Tổng cục Hải quan đã nghiên cứu, phân tích nội hàm, kết quả chỉ số giao dịch thương mại qua biên giới của Việt Nam và xây dựng các giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao xếp hạng chỉ số.

Bên cạnh đó, Tổng cục Hải quan đã tổ chức nhiều cuộc họp để xây dựng kế hoạch, báo cáo lãnh đạo các cấp giải pháp để triển khai. Trong tháng 3-2019, Tổng cục Hải quan sẽ tổ chức đoàn công tác trực tiếp làm việc lại các cơ quan, đơn vị liên quan tại TP Hồ Chí Minh và Hải Phòng.

Đoàn công tác sẽ trực tiếp rà soát, đánh giá thực trạng, tồn tại và hạn chế của các bên liên quan bao gồm: Cơ quan Hải quan, cơ quan kiểm tra chuyên ngành, cảng vụ, doanh nghiệp kinh doanh kho bãi cảng, logistics; hãng tàu, hãng vận tải quốc tế, nội địa… Đồng thời, trao đổi về các giải pháp cụ thể đối với từng bên liên quan trong quy trình thực hiện thủ tục thông quan hàng hóa XK, NK để có thể giảm thời gian và chi phí giao thương hàng hóa qua biên giới.

Chỉ số giao dịch thương mại qua biên giới là một trong những chỉ số đánh giá môi trường kinh doanh tại Báo cáo môi trường kinh doanh do WB thực hiện định kỳ hàng năm, đối với 190 quốc gia.

Chỉ số giao dịch thương mại qua biên giới là đo lường thời gian và chi phí thực hiện toàn bộ quá trình XK, NK hàng hóa gồm 3 hoạt động chính: Chuẩn bị và thực hiện bộ hồ sơ XK, NK: Khai báo, chuẩn bị, nộp các chứng từ về vận tải, thông quan, kiểm tra thực tế, bốc xếp hàng hóa theo yêu cầu của các cơ quan liên quan (Hải quan, kiểm tra chuyên ngành, kinh doanh cảng, hãng tàu…); Thực hiện các loại thủ tục tại cửa khẩu: Thủ tục kiểm tra hàng của các cơ quan khác (kiểm tra chuyên ngành, cảng…); thủ tục thông quan và kiểm tra thực tế của cơ quan Hải quan; thủ tục để bốc xếp hàng tại cảng; Vận chuyển hàng hóa XK, NK trong nội địa.

Phan Đức