Ban bảo vệ an ninh của hai phái đoàn gồm chủ yếu các sĩ quan Quân đội, Công an, đều là những người dày dạn nghiệp vụ và bản lĩnh. Nhưng chỉ một ngày trước khi Sài Gòn hoàn toàn được giải phóng, hai cán bộ của Trại Davis đã anh dũng hi sinh, trong đó có một sĩ quan an ninh, là đồng chí Nông Văn Hưởng...

Một ngày giữa tháng 4/2015, tôi nhận được điện thoại của bà Lê Thị Vân (tên thường gọi là Lọn, hiện trú tại tập thể Trung Tự - Hà Nội). Bà  có nhã ý mời tôi đến nhà để tặng một số tài liệu, ảnh của chồng bà – liệt sĩ Nông Văn Hưởng, nguyên cán bộ Bộ Công an, hi sinh ngày 29/4/1975 trong khi đang làm nhiệm vụ tại Trại Davis (Sân bay Tân Sơn Nhất, Sài Gòn). Nguyên trong một lần họp mặt kỉ niệm cựu cán bộ Ban Liên hợp quân sự, tôi được quen biết bà…

Liệt sỹ Nông Văn Hưởng.

Liệt sĩ Nông Văn Hưởng (còn gọi là Nông Văn Kiên) sinh năm 1932, quê tại Chợ Đồn (Bắc Kạn). Sau khi thoát li gia đình, ông trở thành một sĩ quan an ninh, thuộc lực lượng trinh sát kĩ thuật. Ông có vinh dự tham gia bảo vệ, phục vụ Hội nghị Paris. Sau khi Hiệp định Paris kí kết, Thượng úy Nông Văn Hưởng được đưa vào Trại Davis tham gia Ban Bảo vệ an ninh do đồng chí Vũ Nam Bình làm Trưởng ban.

Trong thời gian làm nhiệm vụ trinh sát kĩ thuật trong Ban Bảo vệ an ninh, Thượng úy Nông Văn Hưởng và đồng sự của mình đã phát hiện, ngăn chặn nhiều hoạt động gián điệp của đối phương. Ngoài âm mưu móc nối, lôi kéo người, đặt máy nghe trộm, li gián gây mất đoàn kết nội bộ của ta; địch còn tính tới những thủ đoạn hèn hạ như đầu độc nguồn nước, thực phẩm, bắt cóc lãnh đạo phái đoàn; thậm chí cho bọn lưu manh, côn đồ khiêu khích và kiếm cớ tấn công vào trại tàn sát phái đoàn ta.

Trải qua 823 ngày đêm hoạt động công khai, kiên cường giữa trung tâm đầu não của kẻ địch, phái đoàn ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm thi hành Hiệp định Paris, trong đó có sự đóng góp rất quan trọng của công tác an ninh.

Khi chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử bắt đầu, lãnh đạo đoàn ta tại Trại Davis đã tính tới những phương án, tình huống xấu nhất như: Địch sẽ tấn công vào trại sát hại cán bộ, nhân viên của ta. Vì vậy, công tác sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ người, phương tiện, tài liệu được tính toán chi tiết.

Từ danh sách cựu cán bộ từng công tác tại Trại Davis đang cư trú ở Hà Nội, chúng tôi liên hệ với ông Phạm Văn Lãi, một sĩ quan chính trị của Trại Davis (người đã cắm lá cờ Mặt trận trên tháp nước Trại Davis lúc 9h30 sáng 30/4/1975, trước khi nghỉ hưu năm 2011 là cán bộ Văn phòng Chính phủ).

Nhớ về người đồng đội, ông Lãi kể: Anh Hưởng rất đẹp trai, thư sinh; tính tình điềm đạm và chín chắn. Chúng tôi kém anh Hưởng nhiều tuổi nhưng anh em sống hòa đồng, rất thân thiết, gắn bó với nhau... Để chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh, chúng tôi đã xây dựng kế hoạch sẵn sàng chiến đấu.

Bà Lê Thị Lọn kể lại với PV những kỷ niệm về người chồng hy sinh trước ngày toàn thắng.

Trong một cuộc tập dượt sơ cứu thương binh, tôi nêu câu hỏi: Nếu chẳng may có người bị trúng mảnh pháo gây đứt động mạch cảnh thì cấp cứu thế nào? Một bác sĩ trả lời: Đây là trường hợp đặc biệt nguy hiểm, hầu như không thể cứu chữa được, trừ trường hợp gần cơ sở y tế trung tâm có thể tiến hành đại phẫu... Có ngờ đâu, chính anh Hưởng đã hy sinh trong tình huống này, chỉ trước 1 ngày Sài Gòn được giải phóng!

Nhớ lại những ngày tháng tư lịch sử ấy, ông Lãi kể: Từ rạng sáng 29/4/1975, hỏa tiễn của quân ta dồn dập giội xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Các thành viên phái đoàn vẫn người nào việc nấy. Đồng chí Hưởng được giao nhiệm vụ chụp ảnh các đơn vị chiến đấu của quân ngụy đang vội vã tháo chạy... Một số anh em cảnh vệ khác vẫn kiên quyết bám sát mục tiêu bảo vệ. Bất ngờ, có một quả đạn pháo 130 ly nổ rất gần. Hai cán bộ ta đang làm nhiệm vụ bị trúng mảnh pháo là đồng chí Hưởng và đồng chí Hòa, bị thương nặng. Anh Hưởng bị mảnh pháo găm vào cổ, máu trào ra rất nhanh. Các anh đã hy sinh vào khoảng cuối giờ chiều 29/4/1975.

Giữa cảnh bom rơi, đạn lạc, tôi và anh Phạm Văn Hồng (cán bộ hậu cần) và một số anh em cảnh vệ đã tiến hành khâm liệm hai liệt sĩ. Hai anh được mặc quần áo mới, đi tất, giày. Lúc đó cũng chưa biết chính xác bao lâu nữa thì Sài Gòn được giải phóng nên chúng tôi kiếm được hai túi nilon loại lớn và đào hố dưới một căn hầm dã chiến để các anh nằm tạm. Chiều hôm sau, khi quân Giải phóng đã làm chủ Sài Gòn, chúng tôi tìm được gỗ đóng hai áo quan, rồi đưa các anh ra an nghỉ tại phía sân bóng rổ của Trại Davis... Sau giải phóng vài năm thì cơ quan và gia đình anh Hưởng đưa hài cốt về quê…

Đúng hẹn với bà Lọn, chúng tôi đến thăm bà. So với những lần gặp trước, năm nay sức khỏe của bà đã giảm sút nhiều. Bà Lọn thở hổn hển khi ra đón khách. Trong câu chuyện, bà bồi hồi nhớ về người chồng đã hi sinh đúng 40 năm trước. Rơm rớm nước mắt, bà kể: “Tôi và nhà tôi cùng là người dân tộc Tày, được giác ngộ cách mạng rồi vào Công an. Lấy nhau, sinh được hai mặt con, đúng ngày đất nước thống nhất thì nhà tôi hy sinh”...

Khi sự xúc động nguôi ngoai, bà Lọn dường như đỡ mệt mỏi. Bà hoạt bát kể: Chúng tôi nên vợ nên chồng là nhờ sự giới thiệu của anh Hoàng Mai (Thiếu tướng Hoàng Mai, nguyên Hiệu trưởng Trường C500, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND - PV)... Nhà tôi hiện an nghỉ tại Nghĩa trang liệt sĩ quê nhà ở Bắc Kạn. 

Sau những hồi ức về người chồng thân yêu đã ngã xuống đúng 40 năm trước, bà Lọn lấy ra một tập thư từ, ảnh của liệt sỹ Nông Văn Hưởng trao cho chúng tôi. Trong số này, có một hiện vật rất quý là cuốn hộ chiếu ngoại giao, cấp ngày 5/4/1971 cho chồng bà, nhưng lấy tên bí mật là Nguyễn Xuân Cảnh, sinh ngày 3/2/1932 tại Hải Phòng. Xúc động nhận những kỉ vật từ tay người vợ liệt sĩ Công an, chúng tôi từ biệt và chúc bà luôn mạnh khỏe, bình an.

Duy Hiển – Xuân Trường