1. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, còn gọi Cách mạng 4.0 (CMCN 4.0) là cuộc cách mạng kỹ thuật số xuất hiện từ giữa thế kỷ XX, là sự hợp nhất và tích hợp các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất, làm mờ đi ranh giới giữa các các lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Cách mạng công nghiệp 4.0 (Industrie 4.0) bắt nguồn từ một dự án trong Chiến lược công nghệ cao của Chính phủ Đức, trong đó khuyến khích việc tin học hoá sản xuất. Thuật ngữ này được sử dụng lần đầu vào năm 2011 tại Hội chợ Hannover; chính thức nhận diện khái niệm, nội hàm tại Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) lần thứ 46 (tháng 1/2016). Ở một số quốc gia, cuộc cách mạng này còn được gọi là “Công nghiệp IP”, “Sản xuất thông minh” hay “Sản xuất số”. 

Dù tên gọi có thể khác nhau nhưng bản chất của cuộc cách mạng này là dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh, là sự kết hợp của hệ thống thực và ảo để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất trên cơ sở tối ưu hóa mọi hoạt động của con người và máy móc. Cuộc CMCN 4.0 gắn liền với những đột phá chưa từng có về công nghệ, liên quan đến kết nối Internet vạn vật, điện toán đám mây, công nghệ in 3D, công nghệ cảm biến, thực tế ảo… Xét về phạm vi, cuộc cách mạng này đang làm biến đổi nền công nghiệp ở mọi quốc gia, tạo nên sự biến đổi của toàn bộ hệ thống sản xuất, quản trị kinh doanh, quản lý nhà nước.


Thứ trưởng Nguyễn Văn Thành và các đại biểu dự hội thảo khoa học “Cơ hội và thách thức đối với công tác bảo đảm an ninh, trật tự trước tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ 4”.

CMCN 4.0 đang tác động mạnh mẽ đến mọi quốc gia, chính phủ, doanh nghiệp và người dân toàn cầu, cũng như làm thay đổi căn bản cách chúng ta sống, làm việc và sản xuất. Kỷ nguyên mới của đầu tư, năng suất và mức sống gia tăng tất cả là nhờ vào sự sáng tạo của con người và sẽ tác động sâu sắc đối với các hệ thống chính trị, xã hội, kinh tế của thế giới. Việt Nam là một trong những quốc gia được thừa hưởng những thành tựu của CMCN 4.0 để đẩy nhanh hơn tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thu hẹp khoảng cách với các quốc gia phát triển, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân. 

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi cơ bản nêu trên, cuộc CMCN 4.0 cũng gây ra thách thức, tác động như: sự tụt hậu về khoa học công nghệ, dư thừa lao động trình độ thấp gây phá vỡ thị trường lao động, ảnh hưởng xấu đến tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời đặt ra cho Việt Nam những thử thách không nhỏ đối với công tác bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự xã hội, cụ thể:

- CMCN 4.0 khiến cho Việt Nam phải đối mặt với những thách thức về an ninh phi truyền thống như: Cạn kiệt tài nguyên, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, thảm họa thiên tai, dịch bệnh, khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm mua bán người, tội phạm công nghệ cao, tội phạm rửa tiền…

- Tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao gia tăng nhanh chóng, nhất là trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Việc sử dụng mạng internet để thực hiện hành vi mua bán tiền ảo, tiền giả, rửa tiền; buôn bán ma túy, mua bán người xuyên quốc gia, gian lận thương mại, trốn thuế; tổ chức đánh bạc, đánh bạc, cá độ bóng đá diễn ra công khai, dưới nhiều hình thức khác nhau với quy mô lớn và gia tăng theo từng năm.

- Việc có nhiều thiết bị kết nối internet, đặc biệt là sự phát triển nhanh chóng của mạng lưới IoT là nguy cơ dẫn đến lộ lọt bí mật nhà nước và các thông tin cá nhân, quyền riêng tư, các đối tượng triệt để lợi dụng các kẽ hở trong bảo mật thông tin, bảo mật tài liệu để thực hiện các cuộc tấn công quy mô lớn nhằm đánh cắp thông tin và sử dụng để can thiệp hoạt động chính trị hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật.

- Công tác quản lý, giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ gặp nhiều khó khăn trong bối cảnh sự bùng nổ của công nghệ, các thông tin thất thiệt trên mạng internet gây nhiễu loạn, hoang mang trong dư luận. Việc quản lý cán bộ, chiến sĩ tham gia các trang mạng xã hội như: Facebook, Tik Tok, Instagram, Twitter…; việc sử dụng các thiết bị công nghệ hiện đại chưa được thực hiện đầy đủ, chặt chẽ, dẫn đến nguy cơ lộ lọt thông tin cá nhân, bí mật nhà nước liên quan đến ngành Công an ngày càng gia tăng.

2. Trước tác động từ CMCN 4.0, lực lượng CAND đã chủ động trong công tác dự báo, nắm tình hình, triển khai nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu của cuộc cách mạng này trong công tác Công an. Trong đó các thành tựu về công nghệ thông tin bước đầu đã được ứng dụng và mang lại hiệu quả thiết thực và ngày càng được triển khai ứng dụng rộng rãi, góp phần xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. 

Tuy vậy, CMCN 4.0 cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với công tác xây dựng lực lượng CAND, đòi hỏi phải được nhận thức đầy đủ, toàn diện để tận dụng hiệu quả những điều kiện thuận lợi trong tổ chức bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần xây dựng CAND trong sạch, vững mạnh toàn diện. Thực tiễn công tác Công an thời gian qua cho thấy, nhận thức về ý nghĩa, tác động, những yêu cầu đặt ra của CMCN 4.0 trong đội ngũ cán bộ, chiến sĩ Công an các đơn vị, địa phương còn chưa đầy đủ và thường xuyên. 

Các thế lực thù địch, đối tượng phản động và các loại tội phạm không ngừng thay đổi phương thức, thủ đoạn hoạt động chống phá, phạm tội, trong đó có việc lợi dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, ứng dụng thành tựu CMCN 4.0. Công tác đào tạo, bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao, có trình độ chuyên sâu, am hiểu pháp luật, ngoại ngữ, tin học đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh Tổ quốc, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội còn bất cập; việc ứng dụng những thành tựu của CMCN 4.0 tại các cơ sở đào tạo trong CAND còn nhiều hạn chế. Việc đầu tư trang thiết bị, hạ tầng kỹ thuật phục vụ công tác của lực lượng CAND mặc dù đã được quan tâm, tuy nhiên nguồn lực chưa tương xứng dẫn đến việc triển khai nghiên cứu, ứng dụng thành tựu của CMCN 4.0 còn gặp nhiều khó khăn.

Tình hình trên đặt ra yêu cầu đối với công tác xây dựng lực lượng trong CAND cần tập trung triển khai đồng thời cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức gắn với tăng cường đầu tư hiện đại hóa trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật, vũ khí nhằm thực hiện cho được mục tiêu đã đề ra. Trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

Một là, chủ động quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Bộ Công an về phát triển khoa học và công nghệ, nhất là những mục tiêu, nhiệm vụ đã được xác định trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII; Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 4/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Chủ động tham mưu các giải pháp công tác Công an trước thời cơ và thách thức của CMCN 4.0.

Hai là, cùng với việc nắm vững lý luận chính trị, chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, pháp luật, ngoại ngữ, cán bộ, chiến sĩ CAND cần nâng cao nhận thức về cuộc CMCN 4.0, về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác trong bối cảnh CMCN 4.0 để tự bảo vệ mình, bảo vệ bí mật nhà nước trong môi trường không gian mạng. 

Thực hiện nghiêm túc Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên CAND. Tăng cường công tác quản lý cán bộ, nâng cao vai trò quản lý của cơ quan, đơn vị; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm, xử lý kiên quyết các trường hợp cán bộ, chiến sĩ vi phạm.

Ba là, tận dụng tối đa những thành quả của cuộc CMCN 4.0 trong triển khai sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an, bố trí cán bộ tinh gọn, hiệu quả; trong bố trí nhân lực, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Phát huy tối đa lợi thế của mạng internet, tăng cường cung cấp, cập nhật thường xuyên các thông tin, quan điểm đúng đắn của Đảng, Nhà nước trên các website, cổng thông tin điện tử nhằm nâng cao nhận thức, ý thức chính trị, đấu tranh chống lại các quan điểm, luận điệu sai trái.

Bốn là, kiện toàn, nâng cao chất lượng các cơ sở giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng trong CAND; xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ cao về lý luận, khoa học nghiệp vụ Công an, khoa học kỹ thuật - công nghệ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ CMCN 4.0. Đổi mới cơ chế, tạo thuận lợi để các cơ sở đào tạo trong CAND, nhất là các cơ sở giáo dục đại học mở rộng hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, liên kết đào tạo, liên kết xuất bản các tạp chí khoa học nhằm tạo diễn đàn trao đổi học thuật giữa các bên và cập nhật những công nghệ mới vào giảng dạy. 

Quan tâm đầu tư mua sắm phương tiện, thiết bị dạy học, nâng cấp các phòng thí nghiệm cho các cơ sở đào tạo trong CAND theo hướng ưu tiên trang bị các phần mềm quản lý, các thiết bị sử dụng công nghệ thông minh; nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin ở các cơ sở đào tạo nhằm đáp ứng công tác quản lý, giảng dạy.

Thượng tướng, PGS. TS. Nguyễn Văn Thành, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an