Viện Kiểm soát nhân dân (KSND) tối cao vừa có quyết định kháng nghị một phần Bản án hình sự phúc thẩm số 346/2019/HSST ngày 13-6-2019 của tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về phần xác định giá trị thiệt hại do Phan Văn Anh Vũ (Vũ “nhôm”) và đồng phạm gây ra; phần kết luận các giao dịch liên quan đến 7 tài sản Nhà nước là giao dịch dân sự vô hiệu và xử lý hậu quả của giao dịch vô hiệu; phần nội dung ghi thêm trong bản án in so với nội dung bản án đã tuyên tại Hội trường xét xử cùng với việc tuyên án về phần hình sự đối với các bị cáo, Tòa còn tuyên về phần dân sự.

Trong đó có nội dung: Tuyên bố các giao dịch, hợp đồng của Công ty cổ phần xây dựng Bắc Nam 79, Công ty cổ phần Nova Bắc Nam 79 (do Phan Văn Anh Vũ làm Chủ tịch HĐQT) về việc mua, bán; thuê, cho thuê đối với 7 tài sản Nhà nước bị vô hiệu toàn bộ, gồm 4 tài sản tại TP Đà Nẵng: nhà, đất số 319 Lê Duẩn, phường Tân Chính, quận Thanh Khê; diện tích 3.264m2 đất tại đường Ngô Quyền, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà; nhà, đất tại số 16 Bạch Đằng, phường Thạch Thang, quận Hải Châu; dự án Vệt du lịch ven biển từ Vegas Resort đến Khu du lịch Bến Thành Non Nước, đường  Trường Sa (phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn); 3  tài sản ở TP Hồ Chí Minh gồm nhà, đất tại số 15 Thi Sách, quận 1; nhà, đất tại số 8 Nguyễn Trung  Trực, quận 1 và nhà, đất tại số 129 Pasteur, quận 3 nhưng theo Viện KSND tối cao, trên cơ sở tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả xác minh nội dung bản án Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên đọc ngày 13-6-2019 (bản án đọc) và Bản án phát hành số 346/2019/HSPT ngày 13-6-2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội (bản án in) cho thấy: Bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm có những nhận định và kết luận về giá trị thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo Vũ và các đồng phạm gây ra cho Nhà nước là không phù hợp với các tình tiết, chứng cứ của vụ án không có căn cứ.

Bị cáo Phan Văn Anh Vũ và đồng phạm tại phiên tòa phúc thẩm tháng 6-2019.

Mục đích của bị cáo Vũ và các đồng phạm là lợi dụng chức vụ, quyền hạn tác động đến những người có thẩm quyền trong các cơ quan quản lý Nhà nước để được chuyển giao quyền sở hữu, quyền quản lý, khai thác đối với 7 tài sản Nhà nước sang cá nhân Vũ và các công ty của Vũ không thông qua đấu giá theo các quy định của pháp luật; trên cơ sở đó, Vũ có toàn quyền quyết định việc chuyển nhượng, cho thuê, khai thác, sử dụng, góp vốn,… nhằm hưởng lợi từ những giá trị tăng thêm của các bất động sản. 

Đồng thời, trong quá trình chuyển giao, Vũ và các đồng phạm dùng quyền lực để Vũ và các công ty của Vũ còn được hưởng những ưu đãi về giá, hệ số sinh lợi của bất động sản, từ đó gây thiệt hại đặc biệt lớn cho Nhà nước.

Trên thực tế, trong thời gian từ khi phạm tội đến khi Vũ bị phát hiện khởi tố, giá trị của 7 tài sản Nhà nước nêu trên khi khởi tố đã tăng gấp 10 lần. Vì vậy, thiệt hại do hành vi phạm tội của Vũ và đồng phạm gây ra phải được xác định không chỉ là những ưu đãi về giá, hệ số sinh lợi mà Vũ có được khi nhận 7 tài sản Nhà nước, mà còn bao gồm thiệt hại do Nhà nước mất đi quyền khai thác, quản lý, sử dụng 7 tài sản trên, giá trị tăng thêm của các tài sản này và cả những thiệt hại khác mà Vũ đang gây ra trong quá trình sử dụng.

Do đó, hậu quả thiệt hại của vụ án phải bao gồm các thiệt hại nêu trên và phải được tính từ khi Vũ cùng các công ty của Vũ làm các thủ tục để nhận chuyển giao tài sản đến khi hành vi phạm tội bị phát hiện và ngăn chặn (thời điểm khởi tố, điều tra vụ án). 

Vì vậy, Viện KSND cấp sơ thẩm và phúc thẩm căn cứ vào kết luận giám định xác định giá trị thiệt hại do hành vi phạm tội của Vũ và đồng phạm gây ra tại thời điểm khởi tố vụ án là gần 1.160 tỉ đồng là có cơ sở, phù hợp với mục đích, bản chất, diễn biến hành vi phạm tội của các bị cáo. 

Việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xác định thiệt hại cho Nhà nước tại thời điểm phạm tội là hơn 135 tỉ đồng cùng với khoản thu lợi từ việc cho thuê tài sản là gần 6 tỷ đồng là chưa đánh giá đúng với chứng cứ, tài liệu Vũ và đồng phạm gây ra cho Nhà nước và xã hội.

M.Khoa – M.Hiền