27 bức thư của Nixon gửi Nguyễn Văn Thiệu (Kỳ III)

Thứ Ba, 22/03/2005, 07:00

Ngày 1/11/1972, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố công khai tại Sài Gòn rằng, Hiệp định Hoa Kỳ định ký với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là "một hiệp định đầu hàng". Mở đầu bức thư gửi Nguyễn Văn Thiệu ngày 8/11/1972, Nixon viết: "Hôm nay, sau khi đã được tái cử, tôi muốn tiếp tục cuộc đàm thoại của chúng ta về bản dự thảo Hiệp định chấm dứt chiến tranh".

Đúng là cuộc đàm thoại giữa Nixon và Thiệu sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố phản đối Nixon trì hoãn việc ký Hiệp định ngày 20/10/1972. Từ lúc này cho đến khi bản Hiệp định Paris được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Nixon nhất trí hoàn thiện, cuộc thương lượng lại giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ trải qua ba đợt: tháng 11, tháng 12/1972, tháng Giêng năm 1973. 8 bức thư Nixon gửi Thiệu trong giai đoạn này của cuộc đàm phán ở Paris - ngày 8, 14, 18, 23/11/1972, ngày 17, 20, 22/1/1973 đi sát cuộc thương lượng giữa Kissinger và đồng chí Lê Đức Thọ.

Nói là có cuộc đàm thoại nhằm thuyết phục Nguyễn Văn Thiệu nhưng Nixon không phải không có những lời nói nặng nề. Nếu trong thư trước Nixon đã cho rằng Thiệu chỉ trích dự thảo Hiệp định là "theo đuổi một con đường nguy hiểm" (thư ngày 29/10/1972) thì trong thư ngày 8/11/1972, Nixon nói thẳng rằng: "Việc các ông liên tiếp xuyên tạc và đả kích bản Hiệp định (đến chỗ này Thiệu đánh 4 dấu hỏi liền - LVL) là không đúng đắn và chỉ tự hại mình". Nixon coi bản dự thảo Hiệp định là "tuyệt diệu rồi".

Nguyễn Văn Thiệu thắc mắc bản dự thảo của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nói rằng Hội đồng quốc gia là một "cơ cấu chính quyền", vì điều đó hiển nhiên có ý nghĩa gạt bỏ chính quyền của Thiệu. Nixon cũng đồng ý Hội đồng quốc gia "không có thẩm quyền chính phủ" và hứa sẽ đổi chữ "chính quyền" bằng chữ  "hành chính".

Trong thực tế đàm phán, Kissinger kiên quyết đòi bỏ từ "thành lập một cơ cấu chính quyền lấy tên là Hội đồng hòa giải và hòa hợp dân tộc" và thay bằng từ "thành lập Hội đồng hòa giải và hòa hợp dân tộc". Liên quan đến vấn đề này là chức năng của Hội đồng, đồng chí Lê Đức Thọ đề nghị ghi "đôn đốc hai bên miền Nam thi hành Hiệp định", Kissinger đề nghị ghi "thúc đẩy" (to promote), không bên nào chịu bên nào, cuối cùng thỏa thuận bản tiếng Việt cứ ghi "đôn đốc", bản tiếng Anh ghi "promote" (shall have the task of promoting the two South Vietnamese parties). Cuộc tranh cãi găng và kéo dài đến mức những người Mỹ không biết tiếng Việt cuối cùng cũng biết từ "đôn đốc".

Nguyễn Văn Thiệu phản đối việc để quân miền Bắc ở lại miền Nam. Người ta hiểu Thiệu thắc mắc vấn đề này là tất nhiên vì khi quân Mỹ rút rồi thì quân của Thiệu sao đủ sức chống lại quân Bắc Việt và Mỹ đồng tình với sự lo sợ của Thiệu cũng là tất nhiên. Nixon đề ra hai biện pháp: "Chúng tôi sẽ đòi rút đơn phương trên thực tế một vài sư đoàn của Việt Nam ở vùng phía Bắc nước ông (tức khu phi quân sự - LVL). Thứ hai, chúng tôi sẽ đưa thêm câu chữ vào cuối Điều 9 (b) (tức là khoản nói về vấn đề lực lượng vũ trang ở miền Nam Việt Nam - LVL) quy định là quân đội phải được giải ngũ trên cơ sở một đối một và họ phải được đưa về nguyên quán".

Trên thực tế, ta chấp nhận bằng công thức mập mờ trong Điều 10 của Hiệp định chính thức "Vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau". Trong Hiệp định chính thức không có điều khoản nào nói về việc rút quân Bắc Việt Nam cho nên Mỹ chấp nhận trên thực tế sự có mặt của quân Bắc Việt Nam ở miền Nam.

Nixon còn nhắc lại ý định xử lý vấn đề quân Bắc Việt Nam trong thư ngày 14/11/1972. Nixon cũng tìm cách trấn an Thiệu: "Tôi xin nhắc lại cho Tổng thống những bảo đảm cá nhân của tôi là Hoa Kỳ sẽ phản ứng rất mạnh và nhanh chóng đối với sự vi phạm nào của Hiệp định" (thư ngày 14/11/1972 - đến chỗ này Thiệu đánh dấu hoa thị, ý cho là điểm quan trọng - LVL).

Sau khi Kissinger đã giải quyết được nhiều vấn đề, trong thư ngày 17/1/1973, Nixon đã tổng hợp lại các điều mà Kissinger cho là đã giải quyết được theo yêu cầu của Thiệu để Thiệu yên lòng. Nhưng Nixon vẫn thấy cần chặn xu hướng của Thiệu muốn sửa thêm Hiệp định: "Về những điều mà ông vẫn còn đang tìm cách đưa thêm vào Hiệp định, tôi phải nói rõ một lần nữa là văn bản Hiệp định, cách ký kết và các nghị định thư đã ở mức tốt nhất có thể đạt được. Không thể thay đổi những cái đó được".

Về cách ký cũng nên hiểu hai điều lo của Thiệu: Lo có ghi tên Chính phủ Cách mạng lâm thời và lo Việt Nam Cộng hòa không được nhắc tới, mà không ghi Việt Nam Cộng hòa thì coi như xóa sổ Việt Nam Cộng hòa. Ta cũng hiểu những điều lo của Thiệu. Đồng chí Lê Đức Thọ đề nghị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ cùng ký Hiệp định có ghi đầy đủ tên các bên (như ghi: với sự đồng ý của Chính phủ Cách mạng lâm thời, của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa), còn bốn bên ký một bản. Kissinger đề nghị, lời mở đầu của Hiệp định bốn bên không ghi tên bốn chính phủ, tên người ký cũng không ghi chức vụ. Đồng chí Lê Đức Thọ đồng ý nhưng đòi phải ghi chức vụ. Nixon còn nói với Thiệu rằng, tên của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa được ghi ở một số chỗ và coi đó là một "thắng lợi".

Nixon nhấn mạnh sự hợp tác của Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ sau chiến tranh. Nixon nói sẽ cử Phó Tổng thống Agnew đi Sài Gòn ngay ngày 28/1/1973 để chuyển cho Nguyễn Văn Thiệu một bức thư nêu ba điểm sau đây:

"Một: Chúng tôi công nhận chính phủ ông là chính phủ hợp pháp duy nhất của Nam Việt Nam.
Hai: Chúng tôi không công nhận quyền của nước ngoài (ý muốn nói quân Bắc Việt Nam - LVL) ở lại trên đất Nam Việt Nam.
Ba: Hoa Kỳ sẽ phản ứng mạnh mẽ đối với những sự vi phạm Hiệp định". (Thư ngày 17-1-1973).

Nixon còn nói sẵn sàng đích thân gặp Thiệu tại San Clemente (California) để khẳng định lại các điều trên. Nixon nhấn mạnh: "Một lần nữa tôi bảo đảm với ông rằng, bản Hiệp định này sẽ là bước mở đầu cho một thời kỳ mới của sự cộng tác chặt chẽ và ủng hộ lẫn nhau mạnh mẽ giữa Cộng hòa Việt Nam và Mỹ".

Đến lúc này, Nguyễn Văn Thiệu còn nêu một vài đề nghị mới. Nixon nói: "Tất cả những chuyện đó bây giờ không còn ý nghĩa gì nữa". "Hiệp định này không phải là một Hiệp định lý tưởng, nhưng đó là một bản Hiệp định tốt nhất có thể đạt được trong hoàn cảnh hiện nay". Cuối cùng, Nguyễn Văn Thiệu phải trả lời đồng ý với Hiệp định theo yêu cầu ngặt nghèo, có thể nói lệnh của Nixon để Nixon báo cáo với nhân dân Mỹ.

Ngày 23/1/1973, Kissinger cùng đồng chí Lê Đức Thọ ký tắt Hiệp định và các văn bản khác. Ngày 27/1/1973, Ngoại trưởng Mỹ William P.Rogers ký bản Hiệp định Việt - Mỹ và bản Hiệp định bốn bên; ngày 2/3/1973, Rogers ký Định ước Paris về Việt Nam. Nguyễn Văn Thiệu sợ phải ký chung với Chính phủ Cách mạng lâm thời nhưng đến lúc này, Ngoại trưởng Trần Văn Lãm của Thiệu phải ký Định ước Paris cùng Ngoại trưởng của Chính phủ Cách mạng lâm thời Nguyễn Thị Bình. Rõ là tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa. (Xem tiếp kỳ sau).

Phần I, Phần II

Lưu Văn Lợi
.
.
.