Xuân và Tết trong những câu thơ

Không phải vô cớ mà nữ thi sĩ Anh Thơ (1918-2005) trong tập "Bức tranh quê" (1941) đã viết liền tám bài thơ ca ngợi vẻ đẹp mùa xuân và Tết: Chiều xuân, Ngày xuân, Đêm xuân, Đêm trăng xuân, Chợ ngày xuân, Chiều ba mươi tết, Đêm ba mươi tết, Ngày tết. Những vần thơ tết của nữ thi sĩ thật giản dị, đậm đà hương sắc làng quê "Ngoài đường ngõ bùn lầy theo nước chảy/ Thằng cu con quần đỏ cưỡi lưng bà/ Các cô gái đội vàng hương ôm váy/ Miệng tươi cười mừng tuổi những người qua" (Ngày tết).

Nhưng có lẽ để lại nhiều ấn tượng nhất đối với độc giả thời nay là thi sĩ Đoàn Văn Cừ (1913-2004) với những bài thơ đặc sắc của ông về mùa xuân và Tết trong tập thơ nổi tiếng "Thôn ca" (1944). Trong tập thơ đậm đà chất "chân quê" này, thi sĩ đã viết liền 10 bài thơ về mùa xuân và tết: Nắng xuân, Mùa xuân, Năm mới, Tết, Chơi xuân, Chợ làng vào xuân, Chợ tết, Tết quê bà, Đám cưới mùa xuân, Đám hội.

Hình ảnh Tết cổ truyền dân tộc hiện lên trong thơ Đoàn Văn Cừ rất đỗi gần gũi, thân quen với mọi người Việt Nam - dù ở trong nước hay đang định cư ở nước ngoài - đều cảm thấy như là hơi thở của cuộc sống trần thế: "Cây nêu trồng ngoài ngõ/ Soi bóng dưới lòng ao/ Chùm khánh sành gặp gió/ Kêu lính kính trên cao". Và dường như mỗi chúng ta khi còn nhỏ hay đã lớn nếu được về quê bà ăn tết thì thật là vui vì nơi đây có "Gạo nếp ngày xuân gói bánh chưng/ Cá đêm cuối chạp nướng than hồng/ Quần đào, áo đỏ, tranh gà lợn/ Cơm tám, dưa hành, thịt mỡ đông" (Tết quê bà). Ai ở thôn quê và cả những người xa quê về quê ăn tết mà lại không hơn một lần háo hức đi chợ tết ở quê. Người đọc nhiều thế hệ truyền tụng và yêu thích bài thơ Chợ tết của thi sĩ Đoàn Văn Cừ vì chất sống và niềm vui sống như một thứ men say nồng. Có thể nói, đây là một bức tranh tết vẽ bằng thơ.

Chợ tết bao giờ cũng tấp nập, đông vui: "Người các ấp tưng bừng ra chợ tết/ Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc/ Những thằng cu áo đỏ chạy lon ton/ Vài cụ già chống gậy bước lom khom/ Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ/ Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ/ Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu". Đó là một khung cảnh yên bình, điền viên toát lên cái không khí "thôn ca" giản dị của những người nhà quê chất phác, hiền lành. Đó là cảnh ngoài chợ khi "ống kính" của nhà thơ quay xa.

Rồi từ xa đến gần, quay "cận cảnh" chợ tết: "Người mua bán ra vào đầy cổng chợ/ Con trâu đứng vờ rim hai mắt ngủ/ Để lắng nghe người khách nói bô bô/ Anh hàng tranh kĩu kịt gánh đôi bồ/ Tìm đến chỗ đông người ngồi giở bán/ Một thầy khóa gò lưng trên cánh phản/ Tay mài nghiên hý hoáy viết thơ xuân/ Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm/ Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ/ Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ/ Nước thời gian gội tóc trắng phau phau"…

Nhà văn Hoài Thanh đã nhận xét hết sức tinh tế: "Những hình ảnh cuộc đời Việt Nam xưa còn lưu lại trong thời này chẳng bao lâu sẽ mất hết. Nếu ta không gấp gấp ghi chép lấy thì rồi chẳng còn biết tìm kiếm vào đâu. (…). Phải có thơ. Trong các nhà thơ đồng quê, không ai có ngòi bút dồi dào mà rực rỡ như Đoàn Văn Cừ" (Thi nhân Việt Nam). Cũng theo nhà văn Hoài Thanh thì những bức tranh thơ của Đoàn Văn Cừ, bức nào cũng "đầy rẫy sự sống và rộn rịp những hình sắc tươi vui".

Ảnh: Duy Khánh.

Và trong những áng văn

Tết không chỉ đi vào những vần thơ mà cả những trang văn - một hình thức ngôn từ tưởng chừng như khô khan hơn so với "nàng thơ". Nhà văn Tô Hoài trong tác phẩm "Chuyện cũ Hà Nội" (in lần đầu, năm 1980) đã viết liền 8 bài về cảnh xuân và tết Hà Nội (Những ngày áp Tết, Đêm giao thừa, Đón giao thừa, Hội làng, Pháo, Giỗ tết, Khai bút, Chơi chùa).

Đọc văn Tô Hoài chúng ta được bồi bổ thêm cái tinh thần "ôn cố tri tân" rất cần thiết cho con người hiện đại đang có xu hướng bị văn minh kỹ thuật "số hóa" làm cho xa rời quá khứ, truyền thống. Bài "Khai bút" của nhà văn Tô Hoài cho chúng ta một cảm nhận về một nét sinh hoạt văn hóa cổ truyền rất Việt Nam "Đầu năm khai bút bút khai hoa".

Nhà văn nói chuyện riêng của mình mà như nói hộ nhiều người: "Không nhớ tôi còn có cái thích khai bút từ năm nào. Nhưng đến bây giờ vẫn giữ thói quen hay hay ấy. Và vẫn nhớ tôi khai bút năm mới từ những năm còn xa xôi với nghề văn. Khai bút loăng quăng vào nhật ký, làm bài thơ, viết cái thư, viết vẩn vơ… Rõ ràng một điều gì chờ đợi. Đến khi làm nghề văn thì mỗi năm tôi khai bút bằng một cái truyện ngắn".

Nhà văn Nguyễn Tuân (1910-1987) dù chỉ viết có một bài bút ký ngắn về Tết nhưng để lại dấu ấn nghệ thuật đặc sắc: Cánh B52 rụng xuống một thôn hoa Hà Nội (in trong tác phẩm Ký Nguyễn Tuân, NXB Văn học, 1976). Văn Nguyễn Tuân trước năm 1945, như chúng ta biết, thường phải đọc nhẩn nha và ngẫm ngợi mới thấy hết cái nhã thú nghệ thuật ngôn từ của nó.

Văn Nguyễn Tuân thời đại cách mạng và kháng chiến đã trở nên mạnh mẽ, gấp gáp và sôi động hơn rất nhiều: "Mười tám cái Tết chống Mỹ, những người lao động xã hội chủ nghĩa Hà Nội chả còn dành được mấy thời khắc mà tạt vào Trại Hàng Hoa cổ truyền của mình. Nhưng mà cữ này - giữa khoảng Tết dương 1973 và Tết âm Quý Sửu, thôn hoa ngoại thành Ngọc Hà lại là nơi được nhiều người Hà Nội chân chính tới chia vui với làng hoa khu Ba Đình. Hăm ba con đại bàng Mỹ B52 là thành tựu chiến thắng chung của Thủ đô trong chiến dịch mười hai ngày đêm liền Hà Nội chỉ ngủ có một mắt, nhưng thôn hoa đây là nơi được triển lãm "tại chỗ" những chiến lợi phẩm Mỹ đuy-ra B52 bị bắn rơi tại chỗ. Để đâu cho hết xe đạp của người đi xem hàng hoa đang mở chợ phiên (…). Năm nay Hà Nội ăn tết to thật đấy! Riêng một mình Thủ đô mà xơi của nó hăm ba cỗ B52. Có bao nhiêu đào, cúc, quất là người Hà Nội cũng mua cho bằng hết với bất kể giá nào. Đúng thế, hoa Tết này là dành cho những người chiến thắng, hoa ta ta trồng chậu ta, hoa Tết ta nhất định không phải là nở cho những tên trọc phú thả mìn gỡ mìn từ trường nào…".

Nhà văn Nguyễn Minh Châu (1930-1989) đã viết hẳn một truyện ngắn đặc sắc, nhan đề Chợ tết (in trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 2 năm 1988). Chợ tết đây dĩ nhiên là chợ tết ở quê, trên mảnh đất còn xác xơ, lồi lõm vì bom đạn ở một vùng quê khu Bốn.

Nhưng vượt lên trên tất cả thiếu thốn, nhà văn nhìn thấy một mạch đời tràn trề nhựa sống của nhân dân bất tử và bất diệt: "Trên mảnh đất bom đạn và chiến tranh đã nhào nặn đến biến dạng, Định có dịp thấy tất cả những gì quen thuộc với Định từ nhỏ, chính Định cũng đã quen đi, thì nó vẫn còn đó. Định thích thú ngắm nghía những con lợn đất sơn đỏ, những chiếc kèn cũng bằng đất vắt hình con gà trống, những nhành hoa thờ ơ với những bông hoa bằng giấy kim tuyến lỗ chỗ vết kim châm. Chen lấn giữa đám con nít bâu quanh một cái bàn, Định đứng xem một anh chàng đội mũ phớt tàng, mặt rỗ hoa đang vắt con giống. Từ một hàng những vắt bột nếp nhuộm màu ngũ sắc với một chiếc que tre, mười ngón tay cứ thoăn thoắt trong nháy mắt đã làm sống lại những Phàn Lê Hoa, những Quan công v.v… Bánh mướt, bánh xèo… Định la cà suốt một dãy bán miếng chín quen thuộc với Định từ bé (…). Một cái gì bao quanh Định, một không khí luôn luôn bao bọc Định, đấy là sự quen thuộc, một nếp sống quen thuộc đã có từ lâu đời và chả có gì bị phá vỡ đang phô diễn trong phiên chợ Tết ban đầu khiến Định say mê và cảm động".

Đặc biệt, nhà văn Nguyễn Minh Châu còn viết một bút ký đặc sắc "Nghĩ lúc giao thừa" (in trên Báo Nhân dân ngày 3/1/1984). Trong bút ký này nhà văn đã bổ sung thêm ý nghĩa lịch sử và nhân văn của hai chữ "giao thừa" theo cách cảm nhận mới của thời đại "Tôi không thể nào quên được cái đêm mồng 1/5/1975, đúng một ngày sau khi quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn, cả Hà Nội đổ về phía Bờ Hồ dự đốt pháo hoa mừng đại thắng. Khi những đốm pháo hoa vừa tắt chỉ còn để lại giữa vòm trời sáng trong trên nóc Tháp Rùa những dải khói trắng, thì từ bốn phía Bờ Hồ, các nam nữ thanh niên ồn ào tản đi dạo các đường phố đông đúc của ngày hội, riêng chỉ có những cặp vợ chồng cán bộ và bộ đội ở vào lứa tuổi bốn, năm mươi, mà cuộc đời riêng đã gắn chặt vào số phận đất nước, là vẫn ngồi lại. Họ ngồi đến quá nửa đêm mà vẫn cứ muốn ngồi lại mãi. Đêm ấy mới thật là đêm giao thừa có ý nghĩa nhất của cả đời họ. Trong giờ phút ấy, người ta muốn có mặt bên nhau, thích ngồi lại bên nhau (…). Họ nói chuyện rất ít, mà việc gì phải nói nhiều? Đất nước đang thấm vào tâm hồn từng người".

Đón Xuân, đón Tết lòng người ai chả thênh thang, phơi phới như lời văn tha thiết và thành kính của nhà văn Nguyễn Minh Châu: "Giao thừa đã điểm! Khoảnh khắc thời gian tách ra làm đôi, lòng mỗi con người Việt Nam đang tìm đến nhau để sum họp, trong khói pháo và hương trầm ngào ngạt trước bàn thờ tổ tiên, lòng chúng ta sao mà bồn chồn, náo nức, rộn ràng đến khó tả"

Hà Nội, tháng 12/011

Bùi Việt Thắng