Ngày còn bé, tôi hỏi cha tôi:

- Tết là gì? Thưa cha!

- Tết là cách gọi chệch đi của chữ Tiết trong Lễ tiết ấy.

- Thế Tết Nguyên Đán là gì ạ?

- Nguyên là khởi đầu, Đán là buổi sớm. Nguyên Đán là bắt đầu một buổi sớm. Tết Nguyên Đán là lễ tiết khởi đầu một năm mới, mở đầu một mùa xuân mới, con ạ!

- Thế Tết đến để làm gì ạ?

- Thì để người ta mong có một năm mới tốt đẹp hơn năm cũ. Nhà nông thì mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Học trò thì mong học giỏi, đỗ đạt, hiển vinh. Người già thì mong sống lâu trăm tuổi.

Vợ chồng thì mong “Bách niên giai lão”, gia đình đầm ấm yên vui. Để mọi người chúc nhau mạnh khỏe, “Vạn sự như ý”. Để mọi người đẹp lên trong lúc sống với nhau. Để cúng bái- giao tiếp với tổ tiên, thần linh, trời đất. Để con cháu tỏ lòng hiếu thảo với ông bà, cha mẹ...

Quê tôi ven sông Đáy. Tết quê tôi cũng giống Tết ở mọi nơi trên miền Bắc này. Tôi thấy Tết ở quê tôi bắt đầu từ ngày cúng ông Công ông Táo. Thời bao cấp, làm gì có điện, có ga. Anh em chúng tôi cùng cha nặn bộ “đồ rau” mới từ trước đó.

Chúng tôi trộn nhuyễn đất thịt hoặc đất sét với giấy bản, rồi nặn lấy 3 bộ, gồm 9 “ông đồ rau”, mỗi bộ gồm có 3 vị-“2 ông và 1 bà”. Đến ngày 23 tháng Chạp thì làm cỗ mặn, rồi thắp hương khấn rằng:

“Nam mô A-di-đà Phật!/ Hôm nay, ngày 23 tháng Chạp năm .../ Tín chủ là .../ Người xóm ... thôn ... xã ... huyện ... tỉnh .../ Cùng toàn gia kính bái. Trước linh tọa của Đông trù Tư mệnh Táo phủ thần quân, kính cẩn thưa rằng:

Nay cuối mùa đông/ Tứ quý theo vòng/ Hai ba tháng Chạp/ Sửa lễ kính dâng/ Hoa quả đèn hương/ Xiêm đai áo mũ/ Phỏng theo lễ cũ/ Ngài là vị chủ/ Ngũ tự gia thần/ Soi xét lòng trần/ Táo Quân chứng giám/ Trong năm sai phạm/ Các tội lỗi lầm/ Cúi xin tôn thần/ Gia ân châm chước/ Ban lộc ban phước/ Phù hộ toàn gia/ Trai tráng trẻ già/ An, ninh, khang, thái!”

Cúng xong, chúng tôi gánh các “ông đồ rau” cũ lên đường Đình, ven sông, chỗ sâu nhất, thả xuống cùng 3 con cá chép, tin rằng cứ thế, là “2 ông 1 bà” cưỡi cá chép lên Thiên đình, tâu xin Ngọc Hoàng cho chúng tôi được như nguyện.

Tết thời ấy nghèo, chỉ những ai là cán bộ mới có các tiêu chuẩn gạo nếp, trà, thuốc, bánh kẹo, nước mắm, mì chính..., còn lại thì cùng nhau tự lo- tự cấp, tự túc. Làng tôi có nhiều ao, nuôi được nhiều cá.

Gần Tết, hợp tác xã tát ao, bắt cá, chia cho các nhà theo nhân khẩu. Năm nhiều thì mỗi khẩu được một vài cân, năm ít thì mấy lạng. Mẹ tôi thường đem cá ấy kho mặn, rồi hong- phơi cho khô, Tết thì đem kho lại để ăn với bánh chưng.

Thế đã là ngon lắm. Bánh chưng còn có thể chấm đường hoặc ăn với chè kho. Chè kho nấu bằng đậu xanh và mật, hoặc sang hơn thì nấu với đường phèn, đường hoa mai, trộn cả thảo quả khô nghiền nhỏ, cay cay, thơm thơm, để được rất lâu.

Tết đến, xã cấp cho dân “giấy sát sinh” để có thể mổ lợn lấy thịt mà gói bánh chưng và làm cỗ Tết. Nhà nghèo hoặc nhà ít người thì “đụng” - mấy nhà mổ chung một con lợn - nhà khá giả hoặc đông người thì mổ cả con.

 Nhà tôi thường “đụng” nửa con- tức là khoảng 40 - 50 cân hơi. Mỗi nhà chỉ cần mấy con gà, con vịt, con ngan, con ngỗng nữa đủ ăn Tết. Nói thế, nhưng cũng có ít nhà quá khó, chả đủ thịt, cá mà ăn một cái Tết tươm tất.

Thường người ta mổ lợn vào sáng ngày 30 Tết. Thủ và chân giò thì để tối cúng tổ tiên, thần linh. Thịt thì gói bánh tối luộc và pha sẵn để ăn Tết. Trưa 30 là vui nhất, vì cả nhà được ăn tiết canh, lòng lợn thoải mái.

Cả năm thiếu “chất nhờn”, bữa lòng lợn tiết canh trưa 30 trở thành “đại tiệc” của dân nghèo cuối năm, dù không sang, nhưng rất đã! Sang hôm sau thì có cỗ Tết cẩn thận rồi.

Nhà tôi thường gói bánh vào chiều 30 và luộc ngay đêm ấy. Nông thôn, trời rét, chúng tôi luộc bánh chưng ngay giữa nhà. 50 chiếc bánh chưng xếp trong một chiếc thùng tôn lớn, được đổ xâm xấp nước nóng, kê vững chắc trên gạch và đun bằng củi gộc- gốc cây, gốc tre- tích sẵn trong năm.

Trên miệng thùng là một vòng nùn rơm, trên vòng nùn rơm là một nồi lớn đựng nước lã. Khi nước trong thùng bánh vơi xuống, nước trong nồi cũng nóng già, chúng tôi lại “chế” nước trong nồi vào thùng. Cứ như thế, 10 đến 12 tiếng đồng hồ là bánh chín rền. Đừng “chế” nước lạnh mà bánh bên trên bị “hấy”.

Đừng đun to quá mà bánh phía dưới bị nát. Nước “chế” còn thừa có thể tắm “tất niên”. Bánh chín, vớt ra, xếp lên cánh cửa gỗ, lại lấy cánh cửa gỗ đặt lên trên đặt vật nặng- cối đá, thùng gạo, thúng thóc...- nén vừa phải cho bánh mịn chặt.

Sáng mùng 1 là có bánh cúng rồi. Suốt đêm, chúng tôi trải chiếu quây quần bên bếp bánh, nghe cha, mẹ nói chuyện về mọi việc. Cha tôi là nhà Nho thì nói chuyện chữ nghĩa. Mẹ tôi thì hay kể về ngày chúng tôi còn bé dại.

Tôi thích nhất hai đôi câu đối mà cha tôi hay đọc: “Tối ba mươi nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa”; “Sáng mồng một rượu say túy lúy, dang tay bồng ông Phúc vào nhà”; và: “Có bao nhiêu, ba vạn chín nghìn ngày, được trăm bận Tết”; “Ước gì nhỉ, một năm mười hai tháng, cả bốn mùa xuân”.

Ngày bé, cứ nghĩ, mỗi năm có 4 mùa xuân thì thích lắm, vì được ăn cả 4 cái Tết mỗi năm. Lớn lên, mới biết, nếu mỗi năm có 4 cái Tết, thì dân nghèo đào đâu ra cỗ bàn và đồ lễ? Bây giờ, người khá giả ăn ngon quanh năm đến bị gút! Kẻ khó vẫn phải nhờ truyền hình, nhờ các nhà lãnh đạo cao cấp, hô hào “giúp người nghèo ăn Tết” đấy thôi. Hóa ra, "An, ninh, khang, thái" đâu có dễ về!

Cha mẹ tôi đã mất từ lâu. Anh cả tôi cũng đã quá tuổi “cổ lai hy”. Tôi không còn được luộc bánh tối 30 Tết nữa! Tôi cũng đã gần “lục thập”. Tôi lại kể cho các con nghe về ông, bà ngày xưa, về tôi và các bác ngày còn bé, về 32 cái Tết bộ đội mà tôi đã trải- cả thời chiến lẫn thời bình.

Nhìn mắt chúng, nhìn những bước chân sáo của chúng khi Tết đến, tôi thấy, Tết quả là món quà đẹp nhất, vui nhất của lũ trẻ. Cầu cho chúng sớm và luôn "An, ninh, khang, thái". Còn tôi, tôi ngồi viết bài thơ này cho mình:

Chạp này về

Chạp này về với chiều sông Đáy

Rửa lá dong xanh, đám gái làng

Dìu dịu như ngà, như nếp trắng

Buộc người như những sợi lạt giang

Chạp này về với đường đi chợ

Đòn tre nhún nhảy đổi hai vai

Mấy chị quẩy hàng xuôi huyện sớm

Cỏ dầy tơ nhện sương ngọc trai

Chạp này về với đường đi học

Lúa chửa xanh đồng, dâu đã gum

Trâu rét gặm lười trong gió bấc

Mây ở trên trời, khói dưới thôn

Chạp này về với thời niên thiếu

Bánh chưng bắc bếp luộc trong nhà

Anh em trải chiếu nằm bếp lửa

Ai biết rồi ra ngày một xa

Chạp này về với miền thơ ấu

Nơi có cha nghiêm mẹ dịu dàng

Cha mẹ đã thành ra cổ tích

Cỏ nằm kể mãi dưới chân nhang.

Đỗ Trung Lai