Dự thảo Luật Căn cước công dân quy định về căn cước công dân và cơ sở dữ liệu căn cước công dân. Căn cước công dân được hiểu là các đặc điểm về gốc tích, nhận dạng của công dân theo quy định để phân biệt giữa người này với người khác. Cơ sở dữ liệu căn cước công dân là cơ sở dữ liệu chuyên ngành thuộc cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do Bộ Công an quản lý, gồm: tàng thư căn cước công dân và dữ liệu điện tử về căn cước của công dân, được xây dựng, cập nhật, duy trì phục vụ công tác quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu giao dịch của cơ quan, tổ chức, công dân, bảo đảm điều kiện cho hoạt động quản lý căn cước công dân. 

Điều kiện hoạt động quản lý căn cước công dân phải tuân thủ các quy tắc, chế độ của hồ sơ nghiệp vụ và giao dịch điện tử; bảo đảm giữ bí mật nhà nước, thông tin đời tư cá nhân. Cơ quan quản lý căn cước công dân có trách nhiệm bảo vệ an ninh thông tin về căn cước công dân trên mạng máy tính; bảo đảm an toàn thông tin, tài liệu lưu trữ trong cơ sở dữ liệu căn cước công dân; phòng, chống các hành vi làm hư hỏng các dữ liệu điện tử căn cước công dân. Khi truy nhập máy tính và các thiết bị số khác tới cơ sở dữ liệu căn cước công dân hoặc nghiên cứu hồ sơ, tài liệu trong tàng thư căn cước công dân phải được sự phê duyệt của Thủ trưởng cơ quan quản lý căn cước công dân. Việc cung cấp, trao đổi thông tin, tài liệu từ cơ sở dữ liệu căn cước công dân cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ trưởng Bộ Công an quy định.

Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về căn cước công dân, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về căn cước công dân; đình chỉ, bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền bãi bỏ những quy định về quản lý căn cước công dân của cơ quan, tổ chức trái với quy định của luật này…

Nguyễn Hưng