Kỷ niệm về chụp ảnh nguyên bản Di chúc của Bác Hồ

Hồi ấy, sau khi thành lập, đơn vị được Bộ cho chuyển vào ở đầu nhà số 5, nhà số 6 Trường Công an Trung ương - C500, gần thị xã Hà Đông (sau này là trường Đại học An ninh). Dù bận rất nhiều trọng trách, Bộ trưởng vẫn dành thời gian vào Phòng Tài liệu trực tiếp xem xét, kiểm tra việc triển khai thiết bị kỹ thuật do An ninh CHDC Đức viện trợ và công tác nghiên cứu chế tạo tài liệu thay thế cho chiến trường miền Nam. Tôi được biết, trước năm 1945 Bộ trưởng từng là công nhân in nhà máy IDEO ở Hà Nội để hoạt động cách mạng bí mật. Có lẽ vì thế, ngoài sự đặc biệt quan tâm đến công tác, Bộ trưởng còn có “tình cảm nghề in” với đơn vị chúng tôi chăng.

Năm 1969, sau ngày Bác Hồ mất hơn 1 tuần, Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn trực tiếp gọi điện thoại cho tôi: “Tối nay khoảng 7h30 tôi cần chụp ảnh một số tài liệu tuyệt mật với tỷ lệ 1:1 và chỉ mình đồng chí thực hiện”. Tôi đã chuẩn bị trước, điều chỉnh máy chụp ảnh nằm cỡ lớn dài 4m - merquer (CHDC Đức) đúng tỷ lệ chụp 1:1 và pha mới các loại thuốc làm phim, ảnh. Khoảng 7h30, Bộ trưởng đến cùng đồng chí bảo vệ vào trong buồng chụp ảnh, sau đó đồng chí bảo vệ ra gác bên ngoài cửa. Bộ trưởng vừa mở cặp cẩn thận lấy một tập tài liệu vừa nói với tôi, giọng trầm trầm: “Hôm nay ta chụp ảnh nguyên bản toàn bộ Di chúc của Bác Hồ. Thiệu chụp thật chính xác theo tỷ lệ 1:1 và đảm bảo kỹ thuật từng trang Di chúc của Bác Hồ để Trung ương lưu trữ lâu dài”.

Tôi thật xúc động, tay run run đặt trang đầu bản Di chúc của Bác có chữ viết bằng mực xanh, có chữ sửa chữa bằng bút mực đỏ lên bàn chụp rồi hút chân không cho tờ giấy phẳng mặt. Lúc này tôi như thấy hình ảnh của Bác hiện lên thật hiền hậu. Tôi thấy mình có vinh dự lớn lao được nhìn tận mắt bản Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu và xác định tập trung cao độ để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được Bộ trưởng giao. Bộ trưởng ngồi lặng lẽ, quan sát tôi làm việc. Khi ánh đèn hồ quang chụp sáng rực, tôi thấy nét mặt của ông thật trầm tư, sâu lắng. Tôi cẩn thận chụp từng tờ một, khoảng hơn nửa giờ làm việc tôi đã chụp xong toàn bộ các trang Di chúc của Bác, trong đó có cả chụp tách màu mực xanh và mực đỏ trang đầu bản Di chúc.

Sau khi xếp cẩn thận các trang Di chúc của Bác vào trong cặp, Bộ trưởng nhẹ nhàng nói với tôi: “Thiệu phải giữ tuyệt đối bí mật việc này, các bản phim hỏng phải hủy hết, sáng mai phải giao cả phim âm bản, dương bản cho tôi. Riêng trang đầu của Di chúc sẽ chế bản tách màu và in 20 bản trên giấy theo đúng nguyên mẫu rồi chuyển cho tôi sau 1 ngày nữa”.

Sau khi Bộ trưởng ra về, tôi tiếp tục hoàn thành công việc và kiểm lại từng bản phim, hủy hết các bản phim hỏng, sấy khô phim cẩn thận, rồi cho vào hộp kín có chống ẩm. Đầu giờ sáng hôm sau tôi mang phim lên trao cho Bộ trưởng. Cùng sáng hôm đó, các cán bộ kỹ thuật đã chế bản tách màu và in trang đầu Di chúc của Bác trên máy in offset mới được lắp đặt trong nhà ăn cũ của trường ĐH An ninh. Đúng một ngày sau, tôi mang 20 bản trang đầu Di chúc mới in lên trình Bộ trưởng. Bộ trưởng bắt tay tôi và nói: “Các đồng chí thực hiện việc này rất tốt”. Đây là những bản in màu đầu tiên trang đầu bản Di chúc của Bác. Sau đó trang đầu bản Di chúc của Bác đã được in trên các báo để toàn dân được biết. Cũng trong thời gian này chúng tôi đã phối hợp với Cục Cảnh vệ để thiết kế và in toàn bộ các loại phù hiệu, thẻ bảo vệ Lễ Quốc tang Bác Hồ tại Hội trường Ba Đình và Quảng trường Ba Đình. Cán bộ, chiến sỹ đã khẩn trương tích cực làm việc trong niềm kính yêu và thương tiếc Bác vô hạn.

Toàn bộ nguyên bản Di chúc của Bác Hồ được Bộ Chính trị Đảng CSVN công bố ngày 19/8/1989 đúng sau 20 năm ngày Bác đã ra đi.

Nghiên cứu, chế tạo tài liệu, phương tiện kỹ thuật phục vụ chiến trường miền Nam

Từ năm 1964-1965, tiền thân của Phòng Tài liệu nghiệp vụ là tổ Dấu, một bộ phận ảnh và Hóa của Phòng 2 – C39. Khi ấy chúng tôi (đồng chí Nghiêm Sĩ Tạo, sau này là Đại tá PGS TS Phó Cục trưởng H18, đồng chí Lều Thọ Minh sau này là Đại tá Trưởng phòng TLNV, đồng chí Phạm Tất Lanh sau này là Thượng tá Trưởng phòng Cục Hồ sơ An ninh, đồng chí Nguyễn Văn Thượng sau này là Thượng tá cán bộ Viện E17) đã bước đầu nghiên cứu chế tạo mực bí mật, phục chế một số con dấu và giấy tờ tùy thân của chế độ Sài Gòn và huấn luyện việc khắc dấu gỗ, việc hoàn thiện tài liệu cho cán bộ An ninh miền Nam ra học rồi quay trở lại chiến trường. Đến năm 1967, Mỹ viện trợ cho chế độ Sài Gòn loại thẻ căn cước mới với kỹ thuật rất hiện đại, tinh xảo ta thường gọi là thẻ căn cước “Rồng xanh” rất khó làm phục chế, gây nhiều khó khăn cho cán bộ ta đi vào hoạt động trong vùng địch kiểm soát.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn trong lần kiểm tra kỹ thuật màng nhựa dán ép bảo vệ CMND tại Phòng Tài liệu nghiệp vụ, năm 1977.

Phòng Tài liệu nghiệp vụ được thành lập, nhiệm vụ đầu tiên quan trọng và cấp bách nhất được Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn giao là nghiên cứu chế tạo phục chế thẻ căn cước Rồng xanh để đáp ứng cho chiến trường miền Nam, được đặt tên là “Chiến dịch số 1”. Thực hiện chỉ đạo của Bộ trưởng đơn vị đã phối hợp chặt chẽ với Cục Phái khiển - K49, tập trung toàn lực các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật  (như các đồng chí Lê Văn Cương sau này là Thiếu tướng PGS, TS Viện trưởng Chiến lược Công an; đồng chí Nguyễn Lê Vinh sau này là Đại tá Phó Viện trưởng E17; đồng chí Nguyễn Văn Đích sau là Đại tá, Phó Giám đốc Kho Vận; đồng chí Lê Chí Thăng sau này là Thượng tá Cục trưởng Kho Vận, các đồng chí Nguyễn Xuân Tài; đồng chí Nguyễn Kim Quy và Phạm Ngọc Phú sau này đều là Đại tá Phó Trưởng phòng TLNV…) để nghiên cứu thử nghiệm nhiều lần, giải quyết rất nhiều vấn đề kỹ thuật mới phức tạp…

Đồng chí Bộ trưởng thường gọi tôi cùng đồng chí Cục trưởng Nguyễn Minh Tiến hoặc đồng chí Cục phó Phạm Văn Mẫn trực tiếp báo cáo về kế hoạch công tác và những khó khăn vướng mắc. Khi biết chúng tôi thiếu lò nung nhiệt độ cao trên 1.000oC để chế tạo chất phát quang cho tài liệu thuộc “Chiến dịch số 1”, Bộ trưởng đã có ý kiến với Bộ Quốc phòng, 3 ngày sau chúng tôi làm thủ tục và được nhận 1 lò nung 1.350oC. Bộ trưởng đã giải quyết cho tôi đóng vai thương gia sang Hồng Kông qua thương vụ Việt Nam dùng đô la Mỹ mua máy chữ, hóa chất, mực in, màng plastic… Bộ trưởng đã nhiều lần vào phòng tài liệu ở C500, kiểm tra tiến độ, kết quả nghiên cứu, chế tạo tài liệu thay thế, ân cần thăm hỏi động viên cán bộ, chiến sĩ. Bộ trưởng căn dặn chúng tôi: “Làm tài liệu thay thế cho chiến trường miền Nam và nghiệp vụ phản gián, tình báo, các đồng chí phải nghiên cứu, tìm hiểu thật kỹ lưỡng và áp dụng các biện pháp kỹ thuật tương ứng, phù hợp. Phải hết sức thận trọng, tỉ mỉ, chính xác, đảm bảo an toàn tuyệt đối. Đây là sinh mạng của cán bộ chiến sĩ hoạt động bí mật”.

Tôi còn nhớ một buổi cuối chiều, khi tiễn Bộ trưởng ra về, qua cửa phòng Hóa, nhìn vào ông thấy mấy kỹ sư trẻ đang lúi húi bên bàn có những chai lọ, vỏ cam vỏ chanh, ghé vào ông hỏi: “Các đồng chí đang làm gì vậy?”. Đồng chí Lương Ni, kỹ sư hóa người miền Nam học ở Liên Xô về rụt rè nói: “Thưa bác, chúng cháu pha loãng cồn 99o, thêm tinh dầu vỏ chanh vỏ cam vào thành rượu để chuẩn bị cho liên hoan cuối năm ạ”. Ông cười, nói: “Phải cẩn thận và sạch sẽ đấy”. Hôm sau thật bất ngờ, chúng tôi nhận được quà tết của Bộ trưởng là 1 chai rượu chanh và 1 chai rượu cam của Nhà máy rượu Hà Nội (thời ấy những chai rượu này là của hiếm). 

Cũng trong năm 1969, chúng tôi huấn luyện kỹ thuật khắc dấu và hoàn thiện tài liệu thay thế cho đồng chí Bường, đồng chí Tuyên cán bộ Cục Phái khiển - K49 (đồng chí Bường sau này là Cục trưởng Cục Hậu cần Tổng cục Tình báo, đồng chí Tuyên là Phó phòng Công tác chính trị X15) và đồng chí Toàn cán bộ Cục Bảo vệ Quân đội. Những năm 1971-1972 chúng tôi tiếp tục huấn luyện nhiều đợt cho các cán bộ khoa học hình sự, cán bộ Công an các tỉnh đi chi viện và cán bộ do An ninh miền Nam cử ra Bắc học tập rồi lại quay vào Nam hoạt động (trong đó có đồng chí Năm Thi, An ninh Sài Gòn - Gia Định; đồng chí Tô Nên, An ninh Trung ương Cục; đồng chí  Nguyễn Tuấn Dũng sau này là PGĐ Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; đồng chí Võ Hồng Chiếu sau này là Phó Giám đốc Công an tỉnh An Giang; đồng chí  Phạm Bá Bàng, đồng chí  Nguyễn Văn Bột… là cán bộ khoa học hình sự).

Thực hiện chỉ đạo và những lời căn dặn của Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn, tập thể cán bộ, chiến sĩ Phòng Tài liệu nghiệp vụ đã khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, thiếu thốn, mặc máy bay giặc Mỹ vẫn rình rập ném bom, bắn phá, vẫn hăng say miệt mài sáng tạo trong nghiên cứu, đã chế tạo phục chế và sản xuất thành công thẻ căn cước Rồng xanh cùng các phương tiện kỹ thuật để hoàn thiện việc cấp phát thẻ. Sau khi được nghiệm thu, Bộ trưởng đã chỉ đạo Cục Nghiệp vụ 3 lần cử cán bộ dùng thẻ căn cước do chúng tôi phục chế để đi vào vùng địch kiểm soát ở Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Phú Yên và Sài Gòn. Các đợt đi đều an toàn, địch kiểm tra thẻ căn cước không phát hiện được...

Tháng 4/1973 được Bộ trưởng giao nhiệm vụ, tôi cử đồng chí Nguyễn Văn Đích phối hợp với đồng chí Trần Hồng là cán bộ K49 đến Văn phòng Trung ương Đảng trên đường  Nguyễn Cảnh Chân (Hà Nội) để làm thẻ căn cước Rồng xanh cho đoàn cán bộ Trung ương Cục miền Nam ra Bắc họp. Từ việc lăn tay, chụp ảnh, đánh máy chữ, ký, đóng dấu, ép dán nhiệt đến làm cũ thẻ gọn trong một ngày. Các thẻ căn cước lưu trữ lại được cất kỹ trong két bảo mật. Gần đây, khi mở két hồ sơ lưu trữ, anh em mới phát hiện ra trong đó còn lưu thẻ căn cước của đồng chí Nguyễn Văn Linh mang tên Ngô Văn Hòa số thẻ 05021125 (Trong đợt làm thẻ năm 1973, có đồng chí Nguyễn Văn Linh và đồng chí Võ Văn Kiệt nhưng các cán bộ Phòng Tài liệu làm thẻ khi ấy không thể biết được).

Phòng Tài liệu nghiệp vụ đã phối hợp với Phòng Tài liệu Cục Kỹ thuật Bộ An ninh CHDC Đức để bạn giúp ta chế tác với số lượng lớn thẻ căn cước Rồng xanh cùng các thiết bị hoàn thiện thẻ hiện đại (như máy ép dán nhiệt lô lăn). Năm 1973, một khối lượng rất lớn thẻ căn cước Rồng xanh và các thiết bị được bạn chuyển sang Phòng Tài liệu. Chúng tôi tiếp tục huấn luyện các lớp cán bộ và chuyển tiếp các thẻ căn cước  Rồng xanh cùng các thiết bị mới của bạn và các phương tiện kỹ thuật của ta theo cán bộ tỏa xuống chiến trường miền Nam liên tục cho đến khi Tổng tiến công thắng lợi năm 1975.

Năm 2013, kỷ niệm 45 năm xây dựng và phát triển (1968 - 2013) của Phòng Tài liệu nghiệp vụ - nay là Trung tâm Kỹ thuật Tài liệu Nghiệp vụ P6 - H57 - TCIV. Đơn vị đã được Đảng, Nhà nước và ngành Công an tặng thưởng 6 Huân chương (Quân công hạng III, 2 Chiến công hạng I, III, 2 Lao động hạng III, Bảo vệ Tổ quốc hạng III), Lẵng hoa Bác Tôn và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Trải qua nhiều thời kỳ công tác, đến nay Trung tâm luôn ổn định về tổ chức, chức năng nhiệm vụ và ngày càng phát triển vững mạnh, góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, xứng đáng với sự quan tâm và tấm lòng của Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn, xứng đáng với truyền thống vẻ vang của đơn vị từ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước

T.K.T.