Lý giải nguyên nhân của tình trạng này đối với lĩnh vực giáo dục đại học (ĐH), bà Nguyễn Thu Thủy, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (ĐH) cho biết: Do thiếu hụt nguồn lực để triển khai, sự phối hợp giữa cơ quan chủ trì và các cơ quan liên quan còn hạn chế. 

Do đó, Việt Nam chưa thực hiện công nhận kỹ năng lẫn nhau ở cấp quốc gia và chưa hình thành các cơ chế công nhận lẫn nhau ở cấp khu vực. Bên cạnh đó, kỹ thuật xây dựng chuẩn đầu ra (CĐR) và phát triển chương trình đào tạo trong GD ĐH còn nhiều hạn chế, giữa đảm bảo chất lượng trong các cơ sở đào tạo và VQF chưa hình thành được mối liên kết. 

Khung trình độ quốc gia Việt Nam được xây dựng với cấu trúc gồm 8 bậc. Ảnh minh họa.

Hiện Bộ GD&ĐT đang dự thảo Quyết định Ban hành kế hoạch thực hiện VQF Việt Nam trong lĩnh vực GD ĐH theo 2 giai đoạn. Giai đoạn 1 từ 2019-2020 với mục tiêu, thí điểm thực hiện VQR đối với một số ngành đào tạo thuộc các lĩnh vực ngành nghề được phép di chuyển trong ASEAN để hướng tới sự công nhận lẫn nhau về triển khai kỹ năng trong ASEAN. 

Giai đoạn 2 từ 2020-2025 sẽ triển khai VQF đối với các ngành đào tạo khác trong GD ĐH và cập nhật đối với các ngành đã thí điểm trong giai đoạn 1.

Góp ý cho Dự thảo Quyết định Ban hành kế hoạch thực hiện VQF Việt Nam, các chuyên gia đến từ các Bộ, ngành, các cơ sở giáo dục ĐH và hiệp hội nghề nghiệp cơ bản đều thống nhất với các nội dung trong dự thảo và cho rằng, việc triển khai đối với các trình độ của giáo dục ĐH để trình Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thống nhất giữa các trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục của Việt Nam là cấp thiết. 

Đa số các ý kiến cũng đồng thuận về việc cần có Hội đồng ngành khi triển khai xây dựng chuẩn đầu ra của ngành. Hội đồng này sẽ có sự tham gia của đại diện các cơ sở giáo dục ĐH đang đào tạo ngành, Bộ quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo, Bộ quản lý lĩnh vực đào tạo của ngành và đặc biệt cần có sự tham gia của các hiệp hội nghiệp nghề, các doanh nghiệp sử dụng lao động và các chuyên gia, nhà khoa học cũng như các bên liên quan khác. 

Với thành phần gồm các đại diện đó, Hội đồng ngành sẽ xây dựng chuẩn đầu ra cho từng ngành để tạo ra những chuẩn mực đào tạo chung tối thiểu, thống nhất trong toàn quốc đối với các ngành đào tạo nhưng không “lấn sân” hay làm thay các cơ sở đào tạo trong việc xây dựng chuẩn đầu ra của các chương trình đào tạo. 

Điều này đặc biệt cần thiết khi Luật GDĐH sau khi sửa đổi đã mở rộng quyền tự chủ cho các đơn vị trong mở ngành, xây dựng chương trình, tuyển sinh, tổ chức đào tạo, đánh giá và cấp bằng. Việc cần thống nhất trong xác định được nội hàm của chuẩn đầu ra cũng là một nội dung được nhiều chuyên gia cho đây là vấn đề quan trọng.

Bà Nguyễn Thị Kim Phụng, Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH, Bộ GD&ĐT khẳng định: Để triển khai VQF cần phải xây dựng lộ trình phù hợp. Các nước trên thế giới phải khoảng 10 năm và nếu chúng ta tận dụng lợi thế của nước phát triển sau, học tập tốt kinh nghiệm của thế giới để rút ngắn thời gian thực hiện thì cũng phải mất 5-7 năm để thực hiện chu kỳ đầu. Đây phải là quá trình gồm nhiều giai đoạn tiếp nối, liên tục phát triển, cập nhật… chứ không phải là chỉ sau một khoảng thời gian chúng ta có thể làm xong việc. 

“Bộ GD&ĐT sẽ phải triển khai tất cả các ngành trong lĩnh vực đó, mà mỗi lĩnh vực sẽ chọn ra một số ngành có khả năng xây dựng nhanh nhất, để triển khai trước. Bộ GD cũng nhất trí sẽ ưu tiên xây dựng CĐR với các lĩnh vực ưu tiên, những trường có kinh nghiệm xây dựng CĐR tốt. Và cũng sẽ chọn những khối ngành ưu tiên để làm trước. Kế hoạch trình Thủ tướng Chính phủ ban hành sẽ theo hướng có lộ trình làm trong khoảng 5-7 năm để có thể cơ bản vào năm 2025 sẽ kết thúc được vòng đầu tiên để tiếp tục phát triển ở những vòng sau”, bà Phụng nói. 

Cũng theo bà Phụng, các đơn vị được phân công thực hiện nhiệm vụ của Bộ GD&ĐT và Bộ LĐ-TB&XH sẽ hợp tác theo chỉ đạo của cấp trên để việc thực hiện Khung trình độ quốc gia có sự liên thông trong việc triển khai giữa các trình độ trong một ngành, không làm khó cho các trường và không chia cắt khung trình độ quốc gia ra thành các phân mảng.

Hùng Quân