Theo số liệu của Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ LĐ-TB&XH thì lượng lao động Việt Nam sang làm việc tại Malaysia ngày càng giảm. Năm 2007, chúng ta chỉ đưa được 27.000 lao động sang làm việc tại nước này, giảm 10.000 lao động so với năm 2006.

Mặc dù Malaysia vẫn được Bộ LĐ-TB&XH xếp vào top thị trường trọng điểm nhưng các doanh nghiệp xuất khẩu lao động (XKLĐ) trong nước khai thác thị trường Malaysia đang rất khó tuyển lao động. Mục tiêu xuất khẩu 31.000 lao động sang Malaysia trong năm 2008 có nguy cơ phá sản do những tác động tâm lý không nhỏ đối với người lao động trong thời điểm này.

Thị trường dễ tính nên cả doanh nghiệp và lao động cùng "lách"

Ông Nguyễn Xuân An, Phó Chủ tịch Hiệp hội XKLĐ Việt Nam cho biết: Hiện có 120 doanh nghiệp trên tổng số 150 doanh nghiệp XKLĐ của Việt Nam đưa lao động sang làm việc tại Malaysia.

Sở dĩ Malaysia là thị trường có nhiều doanh nghiệp khai thác nhất, là do đây là thị trường khá dễ tính, không đòi hỏi cao về trình độ tay nghề của lao động. Việt Nam ký hiệp định chính thức với Malaysia từ cuối năm 2002, sau 5 năm đã có 150.000 lao động Việt Nam sang làm việc tại nước này, hiện vẫn còn 120.000 lao động đang làm việc, luôn đứng ở vị trí đầu bảng về số lượng lao động đưa đi, cao hơn nhiều so với những thị trường truyền thống khác như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc... ồ ạt tuyển lao động, nhiều doanh nghiệp về tận vùng sâu, vùng xa tuyển lao động với nhiều hình thức quảng cáo, khuếch trương về thị trường cốt để tuyển được nhiều lao động.

Ông Nguyễn Xuân Vui, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Dịch vụ và Thương mại Hàng không (Airseco) cho biết: Một trong những nguyên nhân khiến thị trường Malaysia có nhiều chuyện không hay là do cách làm ẩu của doanh nghiệp. Vì thị trường dễ tính nên các doanh nghiệp càng "lách" để giảm chi phí, thậm chí đào tạo rất nhanh chóng tại địa phương, khoán cho lao động tự lo khám sức khỏe. Để đạt được mục đích đi Malaysia làm việc, nhiều lao động đã tráo đổi giấy khám sức khỏe cho nhau.

Có những lao động khi khám phát hiện bị bệnh tim mạch, tìm cách móc nối với cán bộ khám sức khỏe ở một số bệnh viện để làm đẹp hồ sơ. Công ty của ông cũng đã đình hết những lao động có bệnh đốm phổi, thế nhưng những lao động này lại tìm sang doanh nghiệp khác để được xuất cảnh đi làm việc tại Malaysia.

Với kinh nghiệm 6 năm làm thị trường Malaysia, công ty đã đưa được khoảng 6.000 lao động sang làm việc tại các nhà máy điện tử và có 3 lao động bị tử vong do tai nạn giao thông, bị ốm và bị tai nạn sinh hoạt (quạt trần phang vào người khi đứng trên giường tầng). Nhưng đến thời điểm này khi không ít doanh nghiệp rất khó tuyển lao động thì công ty của ông vẫn có nguồn lao động ổn định.

Sớm có biện pháp bảo đảm an toàn cho người lao động

Tham tán Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia Vũ Đình Toàn vừa có thông báo gửi các doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc tại thị trường Malaysia, đề cập đến các biện pháp góp phần giảm thiểu số lao động bị chết trong năm 2008 và những năm tiếp theo.

Trong đó yêu cầu các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm túc quy trình, thủ tục đưa lao động sang Malaysia, đặc biệt chú trọng một số công việc như: khảo sát điều kiện làm việc và sinh hoạt trước khi đưa lao động đi; đảm bảo chất lượng khám sức khỏe cho người lao động; bồi dưỡng kiến thức cho người lao động về phòng, tránh các trường hợp tai nạn lao động, tai nạn giao thông; phòng bệnh và bảo vệ sức khỏe... Đồng thời, tăng cường đội ngũ cán bộ quản lý lao động tại Malaysia. Kịp thời giải quyết các vấn đề phát sinh với người lao động, trong đó lưu ý đảm bảo việc khám sức khỏe định kỳ hằng năm cho người lao động.

Ban Quản lý lao động và chuyên gia (Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia) cũng yêu cầu khi có lao động bị tử vong với bất kỳ nguyên nhân nào, doanh nghiệp có trách nhiệm báo cáo ngay bằng văn bản gửi Ban; đồng thời phối hợp với chủ nhà máy để giải quyết các vấn đề có liên quan.

Đặc biệt, Ban Quản lý lao động và chuyên gia yêu cầu các doanh nghiệp XKLĐ tiến hành rà soát, báo cáo Ban về các trường hợp lao động bị chết từ năm 2002 đến 29/2/2008. Trong đó nêu cụ thể các trường hợp thuộc diện được hưởng bảo hiểm xã hội và nêu rõ lý do các trường hợp đã được nhận và chưa được nhận bảo hiểm xã hội.

Cuộc tổng điều tra sẽ được tiến hành từ nay đến tháng 5/2008, giúp các cơ quản quản lý nắm tình hình cụ thể, chính xác về thực trạng lao động Việt Nam tại Malaysia, thắt chặt khâu tuyển chọn của các doanh nghiệp đưa lao động sang làm việc tại nước này, nhằm bình ổn thị trường, tạo sự an tâm cho người lao động

T.Uyên