Mặt khác, trong quá trình đầu tư xây dựng, một số chủ đầu tư tự điều chỉnh quy mô, thay đổi thiết kế bản vẽ kỹ thuật so với hồ sơ thiết kế đã báo cáo, nhưng không thông báo cho cơ quan quản lý NN; quá trình thi công không báo cáo tình hình triển khai xây dựng cho các cơ quan chức năng theo quy định.

Bất an trước chất lượng các công trình thủy điện vừa và nhỏ sau nhiều sự cố gần đây, đặc biệt là việc sập hầm dẫn nước thủy điện Đạ Dâng, ngày 25/12, Bộ Xây dựng đã có công văn gửi Bộ Công thương và UBND các tỉnh, TP có thủy điện đề nghị kiểm tra, rà soát các công trình thủy điện vừa và nhỏ đang xây dựng.

Mối lo lắng về nguy cơ mất an toàn tại các công trình thủy điện vừa và nhỏ (chủ yếu do tư nhân đầu tư) không phải là câu chuyện mới, đã từng bùng lên vài năm trước đây, lắng xuống và lại bùng lên khi xuất hiện sự cố mới. Một giải pháp có thể làm yên lòng người dân vẫn chưa được đưa ra, do những tồn tại của thời kỳ nhà nhà đua nhau làm thủy điện. Mặc dù các cơ quan chức năng đã tổ chức rà soát, đánh giá và lên nhiều phương án đảm bảo an toàn đập, nhưng báo cáo giám sát mới đây của Quốc hội về thủy điện vẫn đánh giá: “Một số dự án thủy điện nhỏ, công tác quản lý chất lượng và chất lượng thi công xây dựng chưa được quan tâm đúng mức. Vì vậy có công trình xảy ra sự cố trong thời gian thi công và tập trung vào các công trình có quy mô nhỏ, do tư nhân làm chủ đầu tư như công trình thủy điện Đak Rông 3 (Quảng Trị), thủy điện Đăm Bol – Đạ Tẻl (Lâm Đồng), thủy điện Đăk Mêk 3 (Kon Tum), thủy điện Ia Krel 2 (Gia Lai). Các công trình để xảy ra sự cố, phần lớn do các tổ chức tham gia thi công đều có năng lực và kinh nghiệm yếu trong thi công xây dựng đập, hồ chứa thủy lợi, thủy điện”.

An toàn các công trình thủy điện vừa và nhỏ luôn là dấu hỏi đầy lo lắng.

Bên cạnh đó, công tác lắp đặt và thực hiện quan trắc đập chưa được chủ đập quan tâm đúng mức từ khâu thiết kế, lắp đặt và quản lý vận hành. Tỷ lệ có thiết bị quan trắc tại các đập, hồ chứa thủy điện đạt khoảng 50%; tại hầu hết các đập thủy lợi nhỏ không được lắp đặt thiết bị quan trắc. Chưa kể đến, trong số các đập đã lắp đặt thiết bị quan trắc thì số lượng thiết bị lắp đặt hoặc không đầy đủ hoặc còn bị hư hỏng nhiều, chưa kịp thời khắc phục. Số liệu quan trắc hoặc không ghi chép đủ hoặc còn ở dạng thô, chưa xử lý...

Việc thực hiện quản lý an toàn đập của một số chủ đập chưa được nghiêm túc, còn mang tính hình thức, chất lượng kiểm định an toàn đập chưa đáp ứng quy định, chưa phản ánh đúng thực tế. Mặc dù các cơ quan chức năng đã ra nhiều văn bản yêu cầu kiểm định an toàn đập, nhưng thực tế các chủ đầu tư luôn có lý do để chậm trễ. Bằng chứng là tại cuộc họp hồi tháng 8 của Bộ Công thương sơ kết 6 tháng thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ về việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về tăng cường giám sát các công trình thủy điện, các dự án dưới 30 MW, mới có 80/154 đập đến hoặc quá kỳ kiểm định được kiểm định, kiểm tra tính toán lại dòng chảy lũ, khả năng xả lũ của hồ chứa, 21 đập đang thực hiện và còn tới 53 đập chưa thực hiện. Có 20 đập cắm mốc chỉ giới xác định phạm vi vùng phụ cận bảo vệ; 76 đập chưa xây dựng phương án bảo vệ đập, 128 đập mới “đang” hoặc chưa xây dựng phương án phòng chống lụt bão.

“Cứng rắn” hơn, Bộ Công thương cũng đã có văn bản gửi UBND các tỉnh, đề nghị đôn đốc các chủ đập đã được “cảnh báo” khẩn trương thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật trong lĩnh vực quản lý an toàn đập thuỷ điện (có thời hạn hoàn thành) và kiên quyết xử lý các vi phạm đối với những chủ đập không thực hiện đúng hạn. Riêng đối với quy định về kiểm định an toàn đập, nếu chủ đập không thực hiện, yêu cầu ngừng tích nước phát điện và thu hồi giấy phép hoạt động điện lực cho đến khi chủ đập thực hiện các quy định về kiểm định an toàn đập. Tuy vậy, đến nay vẫn chưa thấy chủ đầu tư nào bị tước giấy phép và việc kiểm định các đập thủy điện vừa và nhỏ vẫn treo lơ lửng.

Vũ Hân