Hạn mặn năm nay bất thường

Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, hạn mặn 2019-2020 được đánh giá là hạn mặn lịch sử, lớn nhất từ trước đến nay.  “Trong số liệu quan trắc, thuỷ văn đo được có 3 đặc điểm rất quan trọng. Hạn mặn 2019-2020 này đến sớm hơn so với cùng kỳ trong nhiều năm là hơn một tháng, ngay từ cuối tháng 11 năm 2019 thì đã bắt đầu đã có hạn mặn. Thứ hai là vào rất sâu. Ví dụ như Bến Tre thì đến thời điểm này toàn bộ sông Hàm Luông vẫn bị mặn và chưa bao giờ như vậy, thường là bình quân 70 km trong nội địa và rút rất chậm, rất lâu. bình thường thì khoảng giữa tháng 4 là đã hết hạn mặn nhưng ngay chúng tôi đang dự báo là hết tháng 5 mới có khả năng là bắt đầu có mưa từ thượng nguồn và mưa nội địa thì mới có thể giảm hạn mặn này. Đây là những đặc điểm rất lạ, bất thường”, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp phân tích.

Tuy nhiên, theo ông Hiệp, chúng ta hoàn toàn chủ động đã dự báo rất đúng và rất sớm. Ngay từ tháng 9 năm 2019 đã bắt đầu triển khai các hoạt động để phòng, chống hạn mặn. Chính vì dự báo sớm và dự báo đúng, các pháp chủ động, đến thời điểm này, Bộ NN&PTNT khẳng định thiệt hại đã giảm thiểu ở mức tốt nhất. Tổng hợp diện tích lúa bị giảm năng suất từ 30 đến 70% khoảng gần 60.000 ha, trong số đó có một số bị mất 100%. Cây ăn trái thì đến thời điểm này cơ bản duy nhất có 1,7 ha cây ăn trái ở Chợ Lách - Bến Tre có ảnh hưởng nhưng dẫn bà con đã kết hợp để chuyển sang cây trồng khác.

Về nước sạch, theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, có khoảng 96.000 hộ dân thiếu nước và có các giải pháp ngay từ đầu, nên có bị ảnh hưởng nhưng không có hộ dân nào không có nước sạch để sử dụng. 

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Hoàng Hiệp.

“Chúng tôi thấy rằng những giải pháp ngắn hạn đã phát huy hiệu quả, ví dụ như các tỉnh để trữ nước ngọt đã đắp đập tạm, như Kiên Giang có 197 đập tạm để sản xuất, để sinh hoạt. Đây là giải pháp ngắn hạn rất tốt và năm nay chính vì thế Kiên Giang cơ bản không có hộ dân bị ảnh hưởng do thiếu nước ngọt. Còn dài hạn, chúng ta phải tính toán để bố trí cân bằng nước ở góc độ không tập trung. Như vậy phải cân bằng nước đến hộ gia đình, đến huyện, đến xã. Chúng tôi sẽ cùng với tỉnh trên địa bàn của địa phương đó, xã đó, chỗ nào có thể làm các công trình vĩnh cửu không thể cứ đắp đập tạm mãi”, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhận định.

Về trung hạn, giai đoạn 2021-2025, Bộ NN&PTNT đang bàn với các tình để sẽ tập trung đầu tư các hệ thống thuỷ lợi liên vùng, mang tính động lực để góp phần vào việc tái cơ cấu nông nghiệp và đảm bảo khắc phục được tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn. Đặc biệt là cống Cái Lớn - Cái Bé để điều tiết mặn, ngọt cho toàn bộ tỉnh Hậu Giang và một phần Kiên Giang, Cà Mau. Nếu công trình này đi vào vận hành thì sẽ trở thành “tấm lá chắn” bảo vệ 1 triệu ha lúa và cây ăn trái. 

Ngoài ra, còn chủ động kiểm soát chất lượng nước quanh năm cho vùng nuôi thủy sản, nhất là tôm. Sắp tới, trong giai đoạn 2021 - 2025, chúng ta sẽ tập trung đầu tư các hệ thống thủy lợi liên vùng, mang tính động lực để góp phần vào tái cơ cấu nông nghiệp, đến năm 2030 đảm bảo khắc phục được hạn hán, xâm nhập mặn hiện nay. “Dự kiến ngân sách nhà nước sẽ bỏ ra khoảng 30.000 tỷ đồng. Ngoài ra chúng tôi cũng đang bàn với các định chế tài chính nước ngoài như Woldbank, ADB để có nguồn vốn vay đặc biệt, giải quyết vấn đề nước sạch sinh hoạt cho đồng bằng sông Cửu Long”, ông Hiệp khẳng định.

Nên nhìn nhận hạn mặn dưới góc độ an ninh nguồn nước

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Hoàng Hiệp cũng cho rằng, hạn mặn ở đồng bằng sông Cửu Long nên nhìn nhận dưới góc độ an ninh nguồn nước. Đây là an ninh phi truyền thống và rất nhiều cuộc chiến tranh trên thế giới bắt nguồn từ nguồn nước. Nguồn nước đổ về đồng bằng sông Cửu Long hàng năm khoảng 350 tỷ m3, trong đó 2/3 là từ sông Mê Kông, 1/3 là sinh thủy ở nội địa. 

Trong khi đó, nhu cầu sử dụng nước cho tất cả các ngành kinh tế và sinh hoạt của người dân chỉ khoảng 20 tỷ m3. “Đây là một nghịch lý! Chúng tôi sẽ cùng các tỉnh, các nhà khoa học nghiên cứu giải pháp đầu tư trên tinh thần không hối tiếc. Những công trình nào chúng ta nhận thấy rằng không hối tiếc thì ưu tiên làm trước, còn những công tình nào có khả năng gây tác động ảnh hưởng đến môi trường, kinh tế - xã hội thì có thể đầu tư sau một chút”, ông Hiệp khẳng định.

 Các đập thuỷ điện thượng nguồn sông Mê Kông đang giữ khoảng 45 tỷ m3 nước, ảnh hưởng đến Việt Nam. 

Đánh giá về tác động của các đập thủy điện thượng nguồn sông Mê Kông đến đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, hiện nay, các đập thủy điện trên toàn bộ dòng nhánh và dòng chính của sông Mê Kông và các hồ chứa thượng nguồn đang tích khoảng 45 tỷ m3 nước. Dự kiến trong tương lai, đến năm 2040, các hệ thống công trình thượng nguồn sông Mê Kông sẽ giữ lại khoảng 110 tỷ m3 nước. 

Đây là con số rất lớn. Như vậy, chúng ta sẽ phải điều chỉnh lịch thời vụ gieo cấy phù hợp với thời gian xả nước của các hồ thủy điện thượng nguồn. Vấn đề đặt ra là, chúng ta phải có đầy đủ thông tin. Hiện nay Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam đang hoạt động rất hiệu quả. Mới đây một Phó Thủ tướng Chính phủ đã được Thủ tướng giao đảm trách chức danh Chủ tịch Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam. Qua đó, tăng cường tiếng nói của Việt Nam đối với các quốc gia cùng lưu vực sông Mê Kông. 

“Hiện nay chúng tôi lo lắng nhất là vấn để chuyển nước ở thượng nguồn sông Mê Kông. Trong tương lai, Campuchia dự kiến tăng khoảng 1 triệu ha đất canh tác lúa, Thái Lan cũng sẽ tăng 500.000ha đất canh tác. Riêng Việt Nam thì có xu hướng giảm 500.000ha lúa vì chúng ta đã cân đối được an ninh lương thực. Khi các quốc gia đầu tư các hệ thống chuyển nước từ sông Mê Kông sang các lưu vực khác thì rất đáng lo. Lúc ấy, lượng phù sa sẽ giữ lại toàn bộ ở thượng nguồn. Khi hết phù sa thì toàn bộ dòng chảy sẽ thay đổi, gây sạt lở bờ sông, bờ biển khủng khiếp. Toàn bộ lượng thủy sinh gần như không trở lại trạng thái bình thường, đó mới là nguy cơ cao”, Thứ trưởng Hiệp bày tỏ băn khoăn. 



Ngọc Yến