Bác sĩ Mac Lane vừa chạm tay tới điện thoại, tôi lừ mắt: “Ông định giở trò gì vậy?”. Mặt ông tái nhợt: “Tôi báo cảnh sát. Tôi không muốn trở thành nạn nhân của một vụ tống tiền”. Tôi cười gằn: “Là một chuyên gia hàng đầu về tim, lẽ nào ông định đánh đổi đời mình chỉ vì món tiền 5.000 USD nhỏ mọn. Thật xuẩn ngốc”. Bác sĩ Mac Lane vẫn có ý nhoài về phía chiếc điện thoại: “Tôi chẳng ngọng dại gì mà tin là nộp tiền cho ông rồi, ông sẽ không tiếp tục quay lại hạch sách”. “Tôi không phải người tham lam. 5.000 USD là quá đủ”- Tôi tìm cách trấn an ông ta.

Rồi tôi khơi chuyện: “Mà này, hình như nghe nói ông từng ngồi tù tới 3 năm ở Larceny thì phải?”. Mac Lane đỏ mặt: “Sự việc xảy ra cách đây nhiều năm rồi. Tôi bị oan”. “Ôi dào, ai mà biết được. Vấn đề là ông đã từng bị tù. Các khách hàng của ông hẳn sẽ e ngại ông vì chuyện này”- Tôi kích. Mac Lane nói với vẻ buồn bã: “Quả đúng như vậy. Thôi thì, ai nghĩ thế nào thì tùy. Tôi là người sưu tập tiếng tim, cả của tôi và thiên hạ. Tôi đã nghe tiếng tim đập hàng nghìn lần…”. Bất chợt, ông ta nhấc ống nghe khỏi giá đỡ: “Tôi muốn cứu giúp những nạn nhân bất hạnh khác của ông”.

Mạch máu nơi thái dương tôi như sôi lên. Cái lão già chết tiệt này sắp làm hỏng hết việc rồi. Tôi đứng dậy vớ cái gạt tàn lớn quật mạnh. Mac Lane mới chỉ kịp quay được một con số. Tôi đập liên hồi kỳ trận, cho đến khi thân xác ông ta đổ vật xuống.

Đến lúc này, sự sợ hãi xâm chiếm toàn bộ con người tôi. Tôi ngồi thụp xuống, đưa tay sờ ngực Mac Lane: không một tiếng đập, dù là nhỏ nhoi, yếu ớt.

Minh họa của Hà Trí Hiếu.

Tôi lấy khăn tay lau mồ hôi trán. Không thể chạy trốn được. Khi tôi đến, viên thư ký riêng của Mac Lane là Collins có trông thấy tôi. Tôi bước qua phòng khách bề bộn. Có một cánh cửa thông vào phòng làm việc của gia chủ. Đập ngay vào mắt tôi là chiếc bàn giấy lớn, đầy ắp các cặp hồ sơ. Cạnh đấy là chiếc máy hát có nắp đậy. Tôi chợt nảy ra một ý, tuy hơi dích dắc, nhưng không còn cách nào khác. 

Người đầu tiên tôi gọi điện là Walt Matson. Tôi cho địa chỉ của Mac Lane, yêu cầu ông ta đến đó ngay. Thoạt đầu Matson xin khất, lấy lý do bận họp. Tôi nghiêm giọng: “Nếu vậy thì cả thành phố này hẳn sẽ vô cùng vinh hạnh khi biết tin công dân Walt Matson đã ăn bớt tiền của công quỹ như thế nào”. Đến nước ấy thì Matson rền rĩ: “Thôi được rồi, tôi sẽ đến”.

Tiếp đó tôi gọi điện cho Mona Saunders. Thoạt đầu cô ta cũng từ chối nhưng rồi nghe tôi nói “rắn”, cũng phải tìm đến.

Khi cả hai cùng vào tới phòng khách của bác sĩ Mac Lane, họ sững lại khi nhìn thấy xác ông. Matson tái mặt, còn Mona thì nở một nụ cười mai mỉa. Không phải lần đầu cô trông thấy xác người. Hiện trong vườn nhà cô còn có cái xác của ông chồng trước của cô mà sát thủ không ai ngoài Mona. Chính tôi là người nắm rõ điều này và vì thế mà có những việc cô ta phải chịu sự khống chế của tôi.

Tôi vào đề ngay: “Các vị hãy làm chứng cho tôi, rằng khi xảy ra án mạng, tôi không có mặt ở đây”.

Cả hai cùng giãy nảy: “Làm thế sao được, không thể bao che tội giết người…”. Tôi ra đòn: “Hẳn cả hai vị, không ai muốn ngồi bóc lịch đâu nhỉ. Tôi có mệnh hệ gì, là tôi kéo luôn hai vị theo đấy”.

Mona hỏi: “Làm thế nào bây giờ?”. Tôi mở cửa phòng làm việc của nạn nhân: “Hãy nói rằng lúc ông ta bị giết, cả ba chúng ta đều đang ở trong này”. Mona tỏ ra lo lắng: “Sao lại ở trong ấy? Cảnh sát sẽ đặt nghi vấn đấy”. Tôi giật mình khi nghe tới hai tiếng “cảnh sát”. Một ý nghĩ nảy đến trong đầu tôi. Tôi nói: “Hãy cứ hình dung sự việc diễn tiến như thế này: Báo chí vừa đưa tin ông Mac Lane đang vận động xây một bệnh viện ở phía nam thành phố, nhưng chưa đủ tiền. Chúng ta đến động viên, tư vấn cho ông ta. Tại đây, tôi đã gợi ý cho Mac Lane: Nên tham khảo ý kiến Matson về địa điểm xây bệnh viện, vì ông là người nhiều kinh nghiệm…”. Tôi chợt nhớ tới viên thư ký riêng Collins. Anh này có thói quen ghi những cuộc hẹn vào sổ tay, tôi dặn: “Nhớ là tôi đến trước, sau đó tôi gọi điện cho hai vị tới nói chuyện với Mac Lane sau, nghe chưa?”. 

Thấy Mona gật gù, tôi yên tâm với “kịch bản” của mình: “Nhớ nhé: Cả ba chúng ta đang bước vào phòng làm việc của Mac Lane thì chuông cửa reo. Ông xin lỗi mọi người ra mở cửa. Khi ấy, tay thư ký riêng đã về. Mac Lane mời chúng ta ngồi đợi trong phòng làm việc. Chúng ta khép cửa lại. Phải nhớ là chúng ta không biết ai nhấn chuông và cũng không nghe họ nói với nhau những gì. Chúng ta nói chuyện với nhau khoảng nửa tiếng, và thắc mắc: “Mac Lane làm gì lâu thế nhỉ?”. Và thế là chính ông, Matson ạ, ông nhớ nhé, ông đã ra mở cửa phòng khách. Thế là chúng ta nhìn thấy xác chết. Nhớ là cả ba chúng ta luôn ở bên nhau, không ai ở một mình bên cạnh bác sĩ. Không được nói chệch đi câu nào. Càng ít lời, càng tốt”. 

Khuôn mặt chảy xệ của Matson mồ hôi ròng ròng: “Thế ông không hình dung là, khi cái xác đổ ập xuống, chúng ta phải nghe thấy tiếng động sao?”. Tôi chỉ mất một giây để nghĩ ra cách đối phó với câu hỏi này: “Chúng ta ở trong phòng làm việc. Mà phòng này thì cách âm, cửa lại đóng. Nếu trả lời cảnh sát rằng chúng ta có nghe thấy bất cứ tiếng động nào thì họ sẽ vặn lại: Tại sao nghe thấy động mà chúng ta không ra ngay”. Cả Mona và Matson đều “chịu” bài của tôi. Khi thấy họ không gợi ý gì thêm, tôi bèn nhấc ống nghe, xin tổng đài được nói chuyện với cảnh sát: “Điện khẩn đấy!”- Tôi làm bộ hoảng hốt. --PageBreak--

Có mặt tại hiện trường, Trung sĩ Harrison nhìn tử thi xấu số, gãi cằm vẻ hoài nghi: “Thật lạ, lẽ nào không một ai trong các vị nghe được tiếng động? Ít ra thì cũng có tiếng kêu hoặc tiếng xác đổ”.

Mona lắc đầu: “Không, cả ba chúng tôi không ai nghe thấy gì”.

Harrison quay lại phía Collins: “Ông có đảm bảo rằng, bác sĩ Mac Lane không có kẻ thù chứ?”. Collins lắc đầu: “Không! Những người nào từng quen biết bác sĩ đều có cảm tình với ông ấy”. Harrison gật gù: “Đúng là phải rất táo tợn mới dám ra tay hạ sát khi ở phòng bên có tới ba người”. Tôi cố lấy giọng bình thản: “Nếu chúng tôi đã không nghe thấy tiếng động nào thì đương nhiên là hung thủ cũng không thể biết có chúng tôi ở phòng bên. Hắn nghĩ bác sĩ chỉ ở nhà một mình”.

Ánh mắt của viên trung sĩ thoáng vẻ mơ hồ. Ông ta nghĩ ngợi một lát rồi quay lại phòng làm việc của Mac Lane, vừa mở cửa vừa bảo: “Mời các vị vào lại trong này xem”. Trước khi đóng cửa lại, Harrison nói vọng ra với một viên cảnh sát: “Khi tớ khép cửa, cậu thử quăng xuống đất vài quyển sách nhé”. Chúng tôi theo chân Harrison vào phòng. Harrison lập tức đóng cửa lại. Một lát, có tiếng động lớn dội lại từ phòng khách. Harrison kết luận: “Căn phòng này không hề cách âm như ông nghĩ đâu”- Vừa nói, viên trung sĩ vừa nhìn thẳng vào mắt tôi.

Tôi cười chống chế: “Trung sĩ ạ, ông quên nhanh quá. Lúc ấy chúng tôi đang mải nói chuyện với nhau, làm sao nghe được cái gì ra cái gì”. Tiếng động lại tiếp tục vang lên, lần này rõ mồn một. Tôi buột miệng: “Ông trung sĩ, ông cứ đặt giả thiết nạn nhân trước khi chết đã kêu lên và ngã vật xuống nền nhà. Nhưng nhỡ đâu sự việc lại không diễn ra như thế?”. Nói xong, tôi chợt hối hận. Biết đâu, Harrison bắt đầu nghi ngờ mình từ câu nói này. Chợt Matson lắp bắp: “Máy, máy hát… đang chạy. Bởi thế, không ai nghe… nghe thấy gì”. Suýt nữa thì từ miệng tôi bật lên hai tiếng: “Đồ ngu”. Nói dài thành nói dại. Càng lắm lời, cảnh sát càng đặt ra nhiều vấn đề. Nhưng dù sao, câu nói của Matson cũng đã kéo chúng tôi vào cuộc mất rồi. Tôi đành xác nhận: “Đúng vậy! Máy hát đang chạy. Thế mà tôi quên khuấy đi mất. Lúc chúng tôi vào, tôi nhớ là nó đang hát mà”.

Trung sĩ Harrison ngước nhìn lên trần nhà, buông lửng một câu: “Máy hát đang kêu eo éo mà vẫn nói chuyện được thì thật lạ!”.                

Tôi cố giữ thái độ bình thản: “Máy kêu khẽ lắm, trung sĩ ạ. Chỉ một chút loáng thoáng thôi”.

Một ý tưởng vụt lên trong mắt Collins. Anh ta mấp máy môi, định nói gì đó, song lại thôi.

Harrison đánh mắt sang tôi: “Ông có còn nhớ máy hát bài gì không?”.

Tôi lắc đầu. Monna đỡ lời: “Tôi cũng không nhớ cụ thể. Tiếng nhạc nhỏ lắm mà”.

Tôi cự lại: “Mà điều đó có can hệ gì cơ chứ?”.

Harrison cười: “Ấy là tôi chỉ muốn thu thập thêm một chút tình tiết cho việc điều tra thôi. Các vị yên tâm”.

Mason bỗng buông một câu: “Hình như nhạc cổ điển thì phải”.

Tôi chỉ muốn tống một quả đấm vào mặt lão.

Harrison mau lẹ bước tới bên chiếc máy nghe nhạc và mở nắp: Bên trong không có cái đĩa nào.

Tôi thót tim, lúng búng giải thích: “Tôi đã cất hết đĩa vào các ngăn tủ trong phòng khách. Lẽ ra, tôi không nên làm thế. Trung sĩ, tôi làm vậy có sao không?”.

“Không, không vấn đề gì”- Harrison đáp.

Collins chợt nở nụ cười: “Đúng đấy, bác sĩ Mac Lane có cả một bộ đĩa hát ở đâu đấy thôi. Thế anh bảo anh đã cất những chiếc đĩa ấy vào đâu?”.

Tôi chỉ bừa vào hai ngăn tủ. Collins bước nhanh về phía đó, nhìn qua rồi rút ra một cái đĩa: “Nghe thử xem nhé, đĩa này có tên gọi “Bác sĩ Mac Lane”. Nói rồi anh ta lắp đĩa vào và cho máy chạy. Tôi lắng nghe, chỉ vài giây tim đã nhảy thót lên. Thôi chết! Collins bình thản chỉ vào bộ đĩa, nói với viên trung sĩ: “Ông ấy là một chuyên gia đầu ngành về bệnh tim. Ông ấy chuyên sưu tập tiếng tim của các bệnh nhân, của những người danh tiếng, của thú vật và của cả ông ấy…”.

Chúng tôi trợn trừng mắt nhìn nhau. Matson trông suy sụp hẳn. Còn Mona, ánh mắt của cô như muốn nói: “Lão này có chết cũng chẳng hề hấn gì. Vấn đề là mình phải giải trình thế nào với cảnh sát về cái xác của lão chồng trước đây?”.

Viên trung sĩ thì nhìn tôi mỉm cười.

Cả gian phòng chết lặng, như chỉ còn duy nhất tiếng đập của quả tim người chết

Trần Lương (dịch)