Cụ thể, với dịch vụ chọn chỗ ngồi trên chặng bay quốc tế, chỗ ngồi thường phí tăng từ 30.000đ lên 50.000đ; phí chỗ ngồi phía trước tăng từ 40.000 đến 90.000đ; phí chỗ ngồi đặc biệt từ 90.000đ tăng lên 150.000đ. 

Cũng là đường bay quốc tế, phí thay đổi chuyển ngày bay, chặng bay; thay đổi tên hành khách; huỷ hành trình và hoàn vé bảo lưu tài khoản sẽ từ 630.000đ tăng lên 800.000đ. 

Với đường bay quốc nội phí thay đổi chuyến bay, ngày bay, chặng bay sẽ từ 320.000đ tăng thành 340.000đ; phí thay đổi tên hành khách từ 320.000đ lên 450.000đ và phí huỷ hành trình và hoàn vé, bảo lưu tài khoản từ 320.000đ lên 450.000đ.  

Từ 1-4, Vietnam Airlines tăng giá vé trẻ em từ 75% lên 90% so với vé người lớn. Được biết, vào thời điểm cuối tháng 3 đến đầu tháng 4 năm ngoái, Vietnam Airlines đã có điều chỉnh tăng giá trên 50% tuyến đường. Mức giá điều chỉnh hạng thương gia tăng từ 100.000 – 500.000đ, hạng phổ thông tăng từ 40.000 – 300.000đ. 

Từ 1-4, hai hãng hàng không VietJet và Vietnam Airlines đều thay đổi giá phí phục vụ.

Jetstar Pacific cũng điều chỉnh tăng phí quản lý hệ thống từ 100.000đ lên 130.000đ chưa bao gồm thuế GTGT (10%). Hãng hàng không Vietjet điều chỉnh mức phí áp dụng các vé đặt và thay đổi gồm các chuyến bay quốc nội tăng 40.000đ (từ 100.000 – 140.000đ) chưa bao gồm VAT. 

Các chuyến bay quốc tế tăng từ 120.000đ lên 160.000đ. Không chỉ giá vé, phí thay đổi tăng cao mà từ 1-4 tới, mức phí mà các cảng hàng không áp dụng cũng sẽ tăng. 

Theo Quyết định số 2345 của Bộ GTVT, các cảng hàng không của Việt Nam được chia thành 3 nhóm và có các mức phí cụ thể. 

Theo đó, nhóm A là nhóm các cảng hàng không khai thác 24/24 giờ bao gồm: Cảng hàng không Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất, Cam Ranh, Cát Bi, Vinh, Cần Thơ, Phú Quốc, Liên Khương, Phú Bài, Buôn Ma Thuột; Nhóm B là nhóm các cảng hàng không ngoài nhóm A và nhóm C. 

Trong đó nhóm C là nhóm các cảng hàng không phục vụ kinh tế, xã hội bao gồm: Cảng hàng không Côn Đảo, Điện Biên, Cà Mau, Rạch Giá. Trong giai đoạn 2 (từ 1-1 đến hết 31-3), mức giá áp dụng tương ứng cho các cảng hàng không nhóm A, B, C là 80.000, 75.000 và 60.000 đồng/khách. 

Giai đoạn 3 (từ 1-4 đến hết 30-6), khách bay nội địa tại các cảng hàng không nhóm A, B, C sẽ phải nộp tương ứng 85.000, 75.000 và 60.000 đồng/khách. Giai đoạn cuối, mức giá cao nhất áp tại cảng hàng không nhóm A là 100.000 đồng/khách, nhóm B là 80.000 đồng/khách và nhóm C là 60.000 đồng/khách. 

Về giá dịch vụ bảo đảm an ninh hàng không đến hết 31-3 áp mức 13.636 đồng/khách và từ 1-4 trở đi, mức giá áp dụng sẽ là 18.181 đồng/khách. Về phí soi chiếu an ninh được áp dụng là 20.000 đồng/lượt từ 1-7, với trẻ em tăng cũng đến 10.000 đồng/lượt từ 1-7. 

Việc nâng phí này sẽ ảnh hưởng thế nào đến giá vé máy bay? Trả lời câu hỏi này, cả Vietnam Airlines và VietJet đều cho rằng, tuỳ từng thời điểm và kế hoạch kinh doanh, nhưng chắc chắn chương trình giá rẻ sẽ vẫn còn, nếu khách hàng có kế hoạch đi lại sớm và cụ thể.  

Tuy nhiên, theo khảo sát của phóng viên, giá vé nội địa của các hãng kể trên vào dịp nghỉ lễ 30-4 và 1-5 không hề rẻ. Đơn cử như vé máy bay chặng Hà Nội-Đà Nẵng (đi ngày 28-4 về ngày 2-5), giá giữa các hãng chênh nhau khá nhiều (chưa bao gồm thuế và phí). 

Với chiều đi, giá vé của VietJet dao động từ 660.000đ/lượt - 1.490.000đ/lượt tuỳ từng giờ bay; Vietnam Airlines có giá từ 1.350.000đ - 1.550.000đ/lượt; Jetstar Pacific có giá từ 1.630.000đ -1.740.000đ. 

Thế nhưng, cũng trên chặng này, trong khi VietJet vẫn giữ các mức giá vé chiều về như chiều đi thì với Vietnam Airlines, giá chiều về dao động từ 1.550.000đ đến 1.950.000đ, thậm chí có khung giờ giá lên tới 2.150.000đ; với Jetstar giá cũng nhỉnh hơn chút ở mức 2.050.000đ. 

Với chặng Hà Nội-Phú Quốc, giá vé chưa bao gồm phí và lệ phí của Vietjet thấp nhất là 2.820.000đ/ lượt, cao nhất là 4.000.000đ/lượt; còn tại hãng Vietnam Airlines, giá vé đã bao gồm thuế, phí dao động từ 3.885.000đ/lượt đến 5.535.000đ/lượt. 

Phạm Huyền