Từ trước tới nay, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã bị các nước khởi xướng điều tra phòng vệ thương mại (PVTM) hơn 160 vụ việc. Trong khi đó, tổng số vụ việc Việt Nam chủ động khởi xướng điều tra phòng vệ thương mại với hàng hóa nhập khẩu chỉ vỏn vẹn 16. 

Một con số còn khá khiêm tốn, tuy nhiên các biện pháp PVTM trong thời gian qua đã góp phần ngăn chặn những tác động tiêu cực của hàng nhập khẩu ồ ạt, cạnh tranh không lành mạnh với hàng hóa trong nước và đảm bảo giữ vững sản xuất trong nước cũng như năng lực cạnh tranh.

Việt Nam khởi kiện phòng vệ thương mại chưa bằng 1/10 bị kiện

Theo Bộ Công Thương, thời gian qua, xu thế gia tăng điều tra, áp dụng các biện pháp bảo hộ thương mại không có dấu hiệu giảm. Trong quý I/2020, số lượng các vụ việc khởi xướng điều tra PVTM có xu hướng tăng so với cùng kỳ 2019. Cụ thể, Việt Nam đã ghi nhận 2 vụ việc khởi xướng điều tra mới, 2 vụ nhận đơn nhưng chưa khởi xướng điều tra (trong khi cùng kỳ năm 2019 mới có 1 vụ việc điều tra). 

Trước đó, trong năm 2019, Bộ Công Thương đã tiếp nhận và xử lý 165 vụ việc PVTM nước ngoài áp dụng đối với Việt Nam, bao gồm 93 vụ việc chống bán phá giá, 18 vụ việc chống trợ cấp, 21 vụ việc chống lẩn tránh thuế, 33 vụ việc tự vệ. Các vụ việc khởi xướng điều tra với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đến từ 19 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong số đó, các nước khởi xướng điều tra nhiều nhất là Hoa Kỳ, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, EU....

Áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại  trên nguyên tắc công khai, minh bạch.  Ảnh minh hoạ Internet.

Pháp luật về PVTM Việt Nam đã được xây dựng cách đây 15 năm, trước khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Tuy nhiên, chỉ trong khoảng 5 năm gần đây Việt Nam mới thực sự chủ động sử dụng công cụ hợp pháp mà WTO và các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) cho phép này. Cụ thể, kể từ năm 2013 đến nay, Bộ Công Thương đã khởi xướng điều tra 16 vụ việc PVTM; trong đó có 10 vụ việc điều tra chống bán phá giá và 6 vụ việc điều tra tự vệ. 

Qua đó, Bộ Công Thương đã ra quyết định áp dụng 13 biện pháp PVTM đối với hàng nhập khẩu. Các hàng hóa là đối tượng áp dụng của các biện pháp thuộc các nhóm hàng sắt thép, phân bón, chất dẻo, hàng dệt, thực phẩm. Đây hầu hết là những mặt hàng có vai trò quan trọng, là xương sống trong nền kinh tế của mỗi quốc gia.

Thực tế cho thấy các biện pháp PVTM đã đem lại hiệu quả tích cực cho các ngành sản xuất trong nước, giúp ngành khắc phục thiệt hại do sự gia tăng của hàng nhập khẩu gây ra, giữ vững sản xuất và từng bước phát triển. Bởi, các biện pháp PVTM đã và đang áp dụng góp phần bảo vệ công ăn việc làm của khoảng 120.000 người lao động trong các lĩnh vực nói trên, khuyến khích sản xuất trong nước phát triển và hỗ trợ cân bằng cán cân thanh toán quốc tế. 

Theo tính toán, những ngành sản xuất đang được bảo vệ bởi các biện pháp PVTM ước tính đóng góp khoảng 6,3% GDP của cả nước. Với việc tăng thuế nhập khẩu, các biện pháp PVTM được áp dụng cũng đã góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước với mức thuế thu được ước tính lên tới hàng nghìn tỷ đồng.

Qua theo dõi tác động của các biện pháp PVTM, việc tăng trưởng nhập khẩu ồ ạt với những sản phẩm này đã giảm đi đáng kể. Ví dụ, mặt hàng tôn mạ trước đây mỗi năm nhập khẩu đều tăng gấp đôi so với năm trước thì sau khi áp dụng biện pháp chống bán phá giá, lượng nhập khẩu đã giảm đáng kể. 

Nhờ công cụ PVTM, nhiều doanh nghiệp thuộc một số ngành kinh tế đã cải thiện đáng kể tình hình sản xuất kinh doanh, thoát khỏi thua lỗ và từng bước ổn định sản xuất như Công ty Phân bón DAP Hải Phòng, Công ty Thép Việt Trung, Công ty Thép Việt Ý, Công ty Thép Pomina...

Các biện pháp PVTM cũng góp phần ổn định giá đầu vào cho một số ngành sản xuất trong nước. Cụ thể, như đối với phân bón DAP, khi có sản xuất trong nước để tạo đối trọng, giá mặt hàng này đã thấp hơn thời kỳ phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu trước đó. 

Cụ thể, trước năm 2009, khi ta không có ngành sản xuất DAP trong nước, giá phân bón DAP (chủ yếu là từ Trung Quốc) đã từng bị đẩy lên ở mức rất cao (18.000 đồng/kg năm 2008) dẫn đến chi phí sản xuất lúa tăng cao. Nhưng sau khi hai nhà máy sản xuất DAP đi vào hoạt động, giá DAP đã giảm liên tục và chỉ còn 8.000 đồng/kg vào cuối năm 2017. 

Chính vì vậy, việc áp dụng công cụ PVTM để bảo vệ các ngành sản xuất liên quan đến nông nghiệp, xây dựng... vừa là để bảo vệ sản xuất và việc làm trong nước đồng thời giảm mức độ phụ thuộc vào hàng hóa nhập khẩu. Rất nhiều thành viên WTO, kể cả các nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, EU, Canada, Úc… đều đã và đang đẩy mạnh việc áp dụng các biện pháp PVTM nhằm đảm bảo duy trì sản xuất trong nước.

Bảo vệ lợi ích chính đáng của các ngành sản xuất trong nước

Bộ Công Thương theo dõi sát diễn biến giá cũng như tình hình nhập khẩu và rà soát định kỳ để điều chỉnh biện pháp PVTM cho phù hợp thực tiễn, tránh hiện tượng hàng hóa tăng giá do biện pháp PVTM hay giảm động lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước. Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp sản xuất trong nước đã tăng cường xuất khẩu sau khi biện pháp PVTM được áp dụng (như thép Hòa Phát, tôn Đông Á, DAP Hải Phòng, thép Posco SS Vina...), cho thấy năng lực cạnh tranh quốc tế của doanh nghiệp vẫn được đảm bảo.

Hiện nay tồn tại không ít vướng mắc trong ứng phó với các vụ việc hàng Việt bị khởi kiện PVTM. Điển hình là thu thập số liệu, tìm hiểu về thực trạng hoạt động của ngành sản xuất trong nước nhằm phục vụ công tác điều tra PVTM còn khó khăn do hạn chế về thông tin và sự phối hợp của nhiều bên liên quan. Ngoài ra, cán bộ điều tra phòng vệ thương mại còn thiếu, đa số còn trẻ, kinh nghiệm chưa nhiều. Cùng với đó, thời gian gần đây, do tình hình diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19 nên quá trình điều tra các vụ việc (như việc thẩm tra tại chỗ doanh nghiệp) bị ảnh hưởng tiến độ... 

Ông Lê Triệu Dũng, Cục trưởng Cục PVTM (Bộ Công Thương) cho biết, trong bối cảnh xu thế bảo hộ đang gia tăng, để giảm thiểu khả năng bị áp dụng biện pháp PVTM cần có một chiến lược tổng thể, dài hạn trong việc phát triển chuỗi sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng cho hàng xuất khẩu của Việt Nam. Đồng thời, chú trọng phát triển theo chiều sâu, tăng giá trị gia tăng trong nước, Việt Nam cũng cần theo dõi kỹ để cánh báo sớm nếu như xuất khẩu của ta sang một số thị trường gia tăng nhanh đột biến.

Thời gian tới cần có cơ chế phối hợp hiệu quả hơn giữa các cơ quan liên quan trong quá trình điều tra như: Phát triển, kết nối hệ thống dữ liệu cập nhật về tình hình xuất nhập khẩu giữa Bộ Công Thương và Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính); theo dõi sát diễn biến về giá, lượng nhập khẩu của một số mặt hàng trọng điểm. 

Đồng thời, duy trì liên hệ thường xuyên giữa cơ quan quản lý nhà nước và các hiệp hội ngành hàng; cần tăng cường năng lực của cán bộ điều tra, bổ sung nhân lực để đảm bảo hiệu quả của công tác điều tra… 

Đồng thời, tiếp tục quan tâm, bảo vệ lợi ích chính đáng của các ngành sản xuất trong nước thông qua việc điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM trên nguyên tắc công khai, minh bạch, tuân thủ quy định pháp luật và phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam.

Phan Đức