Ông Nguyễn Hữu Tuấn cho rằng, trên thực tế những sản phẩm và hình ảnh được quảng bá trên mạng chúng ta không thể khẳng định ngay đấy là hàng thật hay giả. 

“Chúng tôi cũng không có chức năng kiểm tra, thẩm định việc đó thật hay giả. Hơn nữa, không ít đối tượng là trung gian, lấy sản phẩm đăng lên website, trang facebook cá nhân của mình, khi có đơn hàng lại đem đi đặt chỗ khác. Do đó khi kiểm tra gặp không ít khó khăn, phải có căn cứ rõ ràng mới có thể xử lý”, ông Tuấn cho hay.

Ông Nguyễn Hữu Tuấn, Trưởng phòng quản lý hoạt động thương mại điện tử, Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, Bộ Công Thương 

Trả lời câu hỏi của PV về việc trong năm 2019 Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số đã phát hiện, xử lý bao nhiêu trường hợp diễn viên, người mẫu nổi tiếng, các KOLs quảng bá hàng hóa sai sự thật? Ông Tuấn cho hay: “Chỉ khi nào chúng tôi thấy có dấu hiệu mới chuyển sang cơ quan chức năng như lực lượng quản lý thị trường vào cuộc kiểm tra, xác minh. Quan trọng nhất là phải tìm ra được nguồn gốc sản phẩm, kho hàng. Chúng tôi chỉ tập hợp các danh sách có dấu hiệu vi phạm chuyển quản lý thị trường kiểm tra, xử lý. Đáng chú ý, đã có trường hợp người nổi tiếng quảng cáo sản phẩm sai sự thật đã bị Cục Quản lý thị trường TP. Hồ Chí Minh kiểm tra, xử lý”. Ông Tuấn nói.

Theo ông Tuấn, năm 2018, Phòng quản lý hoạt động thương mại điện tử đã cung cấp cho quản lý thị trường 300 trường hợp các website vi phạm liên quan đến thương mại điện tử.  Tổng mức xử phạt liên quan đến thương mại điện tử  khoảng 6 tỷ đồng.

Quang cảnh diễn đàn

Ông Hoàng Ánh Dương, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý thị trường, Bộ Công Thương, tình trạng gian lận thương mại, cạnh tranh không lành mạnh, kinh doanh hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ thông qua mạng internet ngày càng phổ biến và diễn biến phức tạp, trong khi các chế tài xử lý vi phạm vẫn chưa được hoàn thiện. Không những thế, việc kiểm tra, xử lý các vi phạm trên internet, theo vị này rất khó khăn, đặc biệt là việc thu thập thông tin, manh mối cũng như chứng cứ đảm bảo căn cứ pháp lý để xử lý vi phạm hành chính.

Thậm chí có trường hợp bán hàng tại Việt Nam nhưng cơ sở chính lại ở nước ngoài (server tại nước ngoài); trang web, cơ sở giới thiệu sản phẩm ở một nơi nhưng nơi xuất hàng lại ở nơi khác. Các đối tượng sản xuất, kinh doanh hàng giả ngay tại nhà ở, trong thôn xóm để trốn tránh, dễ tẩu tán tang vật nếu bị phát hiện, kiểm tra.

“Nhu cầu tiêu dùng của người dân qua môi trường mạng internet ngày càng cao. Tuy nhiên, việc chủ động phát hiện vi phạm trên mạng gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế do các đối tượng vi phạm thường giới thiệu trên website là mẫu hàng chính hãng, nhưng khi giao hàng thì giao hàng giả hoặc không rõ nguồn gốc, không bảo đảm chất lượng trong khi đó, bản thân người mua hàng rất khó phát hiện. Đặc biệt, nhận thức, thị hiếu của người tiêu dùng về các nhãn hiệu, thương hiệu nổi tiếng vẫn còn cao (nhất là đối với các sản phẩm về mỹ phẩm, giày dép, quần áo, đồng hồ...). Ai cũng muốn sở hữu hàng hoá với giá rẻ, song khả năng nhận biết và thông tin để nhận biết hàng thật-hàng giả còn nhiều hạn chế.”, ông Dương chia sẻ.

Thượng tá Đỗ Đức Tạo- Phó trưởng Phòng 11, Cục Cảnh sát Điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (Bộ Công an) cũng cho rằng, hàng giả, hàng nhái và hàng vi phạm sở hữu trí tuệ luôn song hành. Tại diễn đàn, Thượng tá Đỗ Đức Tạo cũng nêu bất cập trong việc xử lý hàng giả, hàng nhái, hàng vi phạm sở hữu trí tuệ hiện nay. 

Cụ thể, Điều 226 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017 có quy định chi tiết về “quy mô thương mại”,“gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý” nhưng đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn thế nào là “quy mô thương mại” và “tiêu chí, cách thức đánh giá, xác định mức thiệt hại gây ra cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý”.

Điều 12, Nghị định 99/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp cũng quy định về đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý, mức xử phạt cao nhất cho hành vi này là phạt tiền không quá 250 triệu đồng đối với giá trị hàng hóa vi phạm trên 300 triệu đồng (mà không quy định mức trị giá hàng hóa tối đa để xử lý hình sự nên dù trị giá  hàng hóa vi phạm có thể lên đến hàng tỷ đồng hoặc nhiều hơn cơ quan chức năng vẫn có thể xử lý hành chính).

“Thực tế này dẫn đến một vi phạm vừa có thể xử lý bằng biện pháp hình sự vừa có thể xử lý bằng biện pháp hành chính. Thông thường, các cơ quan thực thi pháp luật thường chọn hình thức xử lý hành chính vì thủ tục và quy trình xử lý đơn giản hơn rất nhiều đối với thủ tục để xử lý vụ việc bằng biện pháp hình sự. Điều này gây tác động xấu đến ý thức tuân thủ pháp luật của chủ thể vi phạm pháp luật và các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm”- Thượng tá Đỗ Đức Tạo cho hay.

Ông Nguyễn Sinh Nhật Tân - Cục trưởng Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng (Bộ Công Thương) cho biết, ngăn chặn hàng giả, hàng nhái có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Khi hàng giả đến cần ngăn chặn ngay từ khâu “cung” để số hàng này không đến được với “cầu”.

Trong năm 2019, lực lượng quản lý thị trường đã kiểm tra, phát hiện, xử lý 82.300 vụ vi phạm; thu nộp ngân sách nhà nước 430 tỷ đồng. Trị giá hàng tịch thu chưa bán gần 150 tỷ, chuyển hồ sơ 107 vụ cho cơ quan công an trong đó 26 vụ việc đã khởi tố, 29 vụ việc không khởi tố và 54 vụ việc đang điều tra, xử lý. Riêng hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ 10 tháng năm 2019 kiểm tra, xử lý 6.597 vụ vi phạm, thu nộp ngân sách trên 19 tỷ đồng.


Lưu Hiệp