Trước thực trạng này, tại hội thảo “Bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ (SHTT) sản phẩm nông nghiệp Việt Nam” tổ chức ngày 31-10 tại TP Hồ Chí Minh, nhiều chuyên gia cho rằng, xây dựng và bảo vệ thương hiệu nông sản Việt Nam là việc làm cấp bách, phải thực hiện ngay từ bây giờ...

Phát biểu tại Hội thảo này, bà Nguyễn Hồng Lý, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam cho rằng, Việt Nam có nhiều mặt hàng nông sản có giá trị xuất khẩu đứng tốp đầu thế giới trong thời gian qua.

Tuy nhiên, hiện vẫn còn nhiều nhà sản xuất, doanh nghiệp (DN), tổ chức và địa phương chưa quan tâm đến bảo hộ SHTT cho nông dân và cũng như nhãn hiệu sản phẩm nông sản Việt Nam đạt được uy tín ở tầm quốc tế.

Nhiều loại nông sản Việt Nam chưa được quan tâm bảo hộ sở hữu trí tuệ.

Theo kết quả khảo sát của cơ quan chức năng, cả nước hiện có hơn 800 sản phẩm nông - lâm - thủy sản có uy tín nhưng đến nay chỉ có 50 chỉ dẫn địa lý và 140 nhãn hiệu chứng nhận nhãn hiệu tập thể được đăng ký xác lập bảo  hộ quyền SHTT; chỉ một số ít đăng ký bảo hộ ở nước ngoài như: Nước mắm Phú Quốc, cà phê Buôn Mê Thuột, chè Thái Nguyên, thanh long Bình Thuận, vú sữa Lò Rèn Tiền Giang...

“Do chưa quan tâm đúng mức bảo hộ quyền SHTT nên một số thương hiệu của ta bị lạm dụng, chiếm đoạt ở nước ngoài (như: Nước mắm Phú Quốc, cà phê Buôn Mê Thuột...) và chúng ta phải mất nhiều thời gian chi phí mới đòi lại được.

Hiện còn không ít sản phẩm nông sản xuất khẩu của Việt Nam phải thông qua các thương hiệu nước ngoài với sản phẩm đã được Nhà nước bảo hộ, tên gọi xuất xứ, chỉ dẫn địa lý nhưng vẫn chưa xây dựng được thương hiệu, chưa có logo, nhãn mác, dẫn đến bất lợi lớn trong cạnh tranh”, bà Nguyễn Hồng Lý băn khoăn.

Là DN xuất khẩu lớn các mặt hàng: hạt tiêu, cà phê, điều, quế, ớt, hồi... kim ngạch xuất khẩu trung bình 250-300 triệu USD/năm, Công ty CP Phúc Sinh cho biết cũng đã bị DN khác ăn cắp thương hiệu, và phải mất 5 năm mới đòi lại được thương hiệu cho mình.

Ông Phan Minh Thông, Tổng Giám đốc DN này kể khi thành lập, DN cũng đã đăng ký thương hiệu. Thế nhưng, một ngày nọ, ông nhận điện thoại yêu cầu thanh toán tiền cho hóa đơn lên nhiều tỷ đồng.

“Biết công ty không có khoản nợ nào như vậy, nên sau khi kiểm tra mới phát hiện có một DN khác cũng có tên và ngành nghề đăng ký giống y như DN mình”, ông Thông kể và cho biết khi làm việc với DN trùng tên, yêu cầu họ chấm dứt ngay việc đã gây nhầm lẫn cho đối tác, khách hàng của mình, nhưng không được chấp nhận, ông đã khởi kiện; đồng thời thông báo cho tất cả các đối tác rằng đó là DN giả mạo. Phải mất 5 năm sau, DN của ông Thông mới kết thúc vụ kiện tụng nhưng lại gặp rắc rối với vụ việc khác.

“Cuối năm 2015 đầu 2016, DN chúng tôi đưa sản phẩm cà phê đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vào nhiều siêu thị trong nước với nhãn hiệu K - Coffee. Sau khi sản phẩm bán chạy trên thị trường thì ngay lập tức tại nhiều siêu thị lại có sản phẩm nhái. Điều đáng nói là khi thành lập nhãn hiệu, chúng tôi đăng ký bản quyền thì họ không cho đăng ký K- Coffee mà chỉ cho đăng ký hình ảnh của K- Coffee.

Từ những việc như trên cho thấy, làm được thương hiệu đã khó, giữ được thương hiệu lại vô cùng khó khăn hơn. Ý thức được việc xây dựng và bảo vệ thương hiệu là vô cùng quan trọng, nên khi có sản phẩm mới ra đời là chúng tôi đăng ký ngay lập tức. Tôi cũng khuyên các DN khác như vậy”, ông Thông kể và chia sẻ kinh nghiệm.

Nhiều ý kiến cho rằng, việc xác lập SHTT rất là quan trọng dù việc này ở Việt Nam còn nhiều bất cập. Ở nhiều nước, việc sử dụng phần mềm thì phải trả tiền, nhưng ở Việt Nam có khi ngược lại. Cuối cùng, SHTT làm ra sản phẩm thì không ai bảo vệ.

“Khi nói SHTT trong nông nghiệp, bản thân người làm ra giống lúa mới như tôi, khi làm ra giống lúa mới, được nông dân dùng là hết sức vui mừng, mặc dù là không được trả tiền. Nếu mình bán giống cũng không bán được, vì chỉ cần có người ăn cắp một nắm, thì chỉ cần sau một mùa thì giống cũng đã được nhân ra.

Vì vậy, khi nói đến SHTT trong nông nghiệp thì bàn đến hoàn cảnh của người nông dân, coi luật lệ mình như thế nào, làm sao giữ được SHTT giống của Việt Nam. Chỉ có cách là sản xuất theo chuỗi giá trị, trong đó gắn kết chặt chẽ giữa DN và nông dân. Muốn làm được như vậy thì Nhà nước phải thể hiện vai trò cầm trịch”, GS Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng Trường Đại học Nam Cần Thơ nói.

Để bảo hộ và phát triển thương hiệu cho nông sản Việt, theo GS Võ Tòng Xuân, phải xây dựng mối liên hệ gắn kết 4 nhà: “Nhà nông - DN - Nhà khoa học - Nhà quản lý”, trong đó, vai trò của DN là số một. Bởi vì, muốn tác động nông dân trồng cho tốt thì phải có DN và DN này có thị trường “đầu ra” chắc chắn.

Hiện nay, mối hợp tác “4 nhà” trong ngành nông nghiệp không thành công nhiều là do bị hỏng khâu DN. Do DN không có “đầu ra” chắc chắn, đợi khi nào có người mua, lúc đó mới kêu thương lái đi gom hàng từ nông dân.

“Vậy với liên kết “4 nhà” này, khi DN có thị trường ổn định, sẽ bàn với nông dân về diện tích, sản lượng, cách thức... là sao để đáp ứng đúng với yêu cầu khách hàng của DN. Nếu nông dân làm đúng quy trình theo yêu cầu của DN, khi đó nông dân có lời, DN có lời, đóng góp ngân sách địa phương. Như vậy, là vừa giữ được SHTT của giống cây trồng và hợp tác “4 nhà” để tạo ra chuỗi giá trị”, GS Võ Tòng Xuân nói.

Nhiều chuyên gia cũng đồng quan điểm với GS Võ Tòng Xuân  rằng, việc đăng ký bảo hộ SHTT cho nông sản là việc làm hết sức cần thiết, không chỉ thị trường trong nước mà kể cả thị trường xuất khẩu. Đừng để xảy ra tình trạng “mất bò mới lo làm chuồng”.

Thúy Hà