Cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam đã có một “ông quan” đặt cái đích “yên dân” như mục tiêu cuối cùng của cuộc chiến. Ấy là Nguyễn Trãi, một trái tim vĩ đại đã vượt lên thời đại của mình để đơn thân đau đáu với vận mệnh cơ cực của từng con dân trong chế độ phong kiến. Thế nhưng, những tâm huyết của ông chỉ còn lại như một khát vọng bi tráng nhất vì xét cho cùng, thắng lợi của cuộc chiến đã chỉ phục vụ cho quyền lợi của một giai cấp mà thôi.

Hơn 400 năm sau, lịch sử dân tộc Việt Nam mới thật sự có một cuộc chiến mà lý tưởng độc lập, tự do cũng như nền tảng của dân chủ, nhân quyền đã trở thành sợi dây gắn kết và sức mạnh tinh thần của hàng triệu triệu con người. Đó là cuộc trường chinh hơn ba thập kỷ giành độc lập, tự do và thống nhất đất nước trước hai đế quốc lớn là đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ. Gắn liền với giai đoạn lịch sử này cũng là một vị tướng đặc biệt với trí tuệ rộng mở và trái tim nhân ái. Đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Cũng giống như Nguyễn Trãi, phẩm giá của ông ko chỉ gói gọn trong thắng lợi của những cuộc chiến, dù những cuộc chiến có vẻ vang đến mấy…

Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Điện Biên Phủ năm 2004 trong dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên - Ảnh: TTXVN.

Hơn 60 năm đã trôi qua, Trung tướng Phạm Hồng Cư, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam vẫn nhớ như in cảm xúc khi lần đầu tiên nhận được mệnh lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Khi đó, kháng chiến toàn quốc nổ ra và Tiểu đoàn của ông được giao nhiệm vụ giữ chốt chặn là bến Bình Ca, một điểm huyết mạch trên con đường nối từ Tuyên Quang sang Thái Nguyên. Ông kể: “Một hôm nghe tin địch nhảy dù Bắc Cạn thì có 1 sĩ quan của Bộ tham mưu đi ngựa đến chỗ Tiểu đoàn bộ đang đóng trong rừng. sĩ quan nhảy xuống ngựa và gọi Tiểu đoàn trưởng Vũ Phương, chính trị viên Hồng Cư. Sĩ quan liên lạc đưa một bức thư viết tay của Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp. Tôi nhìn và xúc động chảy nước mắt. Trong đó có một câu tôi nhớ đến bây giờ “Tiểu đoàn 42 sống chết với con đường Bình Ca Thái Nguyên”. Đó là mệnh lệnh đầu tiên mà tôi nhận được đầu tiên từ đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đó như một lời hịch đối với Tiểu đoàn. Anh em lúc ấy từ Hà Nội lên đang bị sốt rét, thế mà khi tôi đọc lời hịch lên, tất cả đều đứng dậy hết”.

Một mệnh lệnh đã được truyền từ trái tim đến trái tim. Người Đại tướng ấy ra lệnh mà dường như không ra lệnh. Hình như, ông chỉ là một người lính đang chia sẻ với từng đồng đội quyết định trong thời khắc khó khăn của cuộc chiến. Và mệnh lệnh đó, hình như cũng chính là mệnh lệnh của lý tưởng cho chính bản thân ông nếu tham dự trận chiến…

Cuộc đời của một Đại tướng đi qua hai cuộc chiến tranh khốc liệt tưởng nhuốm những vinh quang và xương máu nhưng kỳ lạ thay lại đầy ắp tinh thần nhân văn như vậy. Có một số so sánh giữa ông và Napoleon. Dĩ nhiên, là thiên tài quân sự, giữa những cá nhân vĩ đại ấy chắc hẳn có những điểm tương đồng. Nhưng chiến tranh của Napoleon đã hướng đến quyền lực và mục tiêu cuối cùng chỉ là quyền lực. Hàng vạn sinh mệnh đã ngã xuống cho một người leo lên đỉnh cao của quyền lực.

Với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hành trình của ông là hành trình của một con người trăn trở với lý tưởng độc lập, tự do như nền tảng của xã hội tiến bộ. Chiến tranh, nếu phải xảy ra, thì là để hướng đến từng người lính, từng gia đình, làng xóm và quê hương của họ. Napoleon có những đội quân chuyên nghiệp còn Võ Đại tướng thì không. Sau lưng ông chỉ là một dân tộc đã trải qua rất nhiều khổ đau của nạn ngoại xâm với những người lính một đi không trở lại và những hòn vọng phu “hóa đá trông chồng”. Ông chỉ là một người con như bao người con khác. Nhưng cũng chính vì thế, sức mạnh lại đến từ một nơi sâu thẳm của trái tim. Đó là sự chia sẻ không có ranh giới giữa người lính và người chỉ huy về một xã hội mơ ước:

Nhân dân bốn cõi một nhà,
Dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử,
Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào
.

Sự vĩ đại của Nguyễn Trãi chính ở niềm đau đáu “nhân dân bốn cõi một nhà”. Và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kế tục một cách trọn vẹn tinh thần nhân văn ấy để khơi nguồn sức mạnh của dân tộc trong cuộc chiến vì xã hội của tự do, bình đẳng và tiến bộ.

Chiến dịch Quảng Trị đã nổ ra khi Đại tướng đi chữa bệnh. 81 ngày đêm, mỗi ngày đêm là một đại đội hy sinh. Đó không phải là cách đánh mà Đại tướng đã vạch ra. Cho đến 4h sáng ngày 17/9/1972, một ngày sau khi quân ta rút lui khỏi thành cổ, Đại tướng còn điện trực tuyến hỏi tác chiến mặt trận: “Tôi có thông tin trong thành cổ còn sót lại 9 chiến sỹ do ở hầm xa nhau chưa nhận được lệnh rút, còn đang chiến đấu. Cho thẩm tra ngay!”. Một Đại tướng đặt sinh mệnh từng con người lên trên cuộc chiến. Đó không đơn thuần là quân sự, là chiến tranh. Đó là một khát khao dài rộng và sâu sắc hơn một chiến thắng, dù chiến thắng đó có vĩ đại đến bao nhiêu.

Trở lại thời điểm năm 1944, cuộc đấu tranh cách mạng đòi hỏi phải chuyển từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định phải tổ chức một đội vũ trang tập trung để hoạt động. Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi: “Việc này chú Văn phụ trách, chú Văn có làm được không?”. Võ Nguyên Giáp (lúc đó chưa là tướng) đã trả lời: “Có thể được”. Và chính thức từ giây phút đó, cái tên Võ Nguyên Giáp đã gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của quân đội nhân dân Việt Nam. Mãi mãi về sau này, đó luôn là một trong những lựa chọn đúng đắn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là tại sao lại chọn ông, một người trí thức làm tướng mà không phải những người học chuyên về quân sự? Nếu nhìn vào thực tế cách mạng khi đó, cán cân lực lượng giữa ta và địch quá chênh lệch. Trong hoàn cảnh đó, vị tướng không chỉ đơn thuần là người chỉ huy những cánh quân, đưa ra những chiến thuật. Quan trọng hơn, vị tướng ấy phải là người có khả năng hội tụ và phát huy sức mạnh tinh thần trong mỗi con người. Mà sức mạnh tinh thần ấy chỉ có thể đến từ trái tim yêu nước và mơ ước da diết cho độc lập, tiến bộ cũng như niềm tin ở người dẫn dắt cuộc đấu tranh. Nói một cách khác, đó phải là một vị tướng có khả năng xây dựng nên đội quân quyết chiến quyết thắng bằng chính sức mạnh tinh thần. Để làm được điều đó cần những tố chất chỉ có thể ở một người trí thức: trái tim nhân ái, trí tuệ mẫn tiệp, hiểu biết sâu sắc và sự hy sinh quên mình cho lý tưởng. Và Đại tướng Võ Nguyên Giáp chính là một con người như thế.

Cách đây một vài năm, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có một người khách xin được vào thăm. Đó là một cựu chiến binh già như hàng vạn cựu chiến binh trên đất nước lặn lội từ Quảng Bình ra Hà Nội. Khi Đại tướng xúc động ôm người cựu chiến binh, chỉ có một câu nói giản dị được thốt lên: “Báo cáo anh, em đã hoàn thành nhiệm vụ!”. Hơn 30 năm chiến tranh đã qua đi nhưng sâu thẳm trái tim những người lính yêu nước vẫn ngự trị hình ảnh của một vị tướng yêu nước. Trong tình cảm đó không có khái niệm thời gian và cấp hàm. Chỉ có một lý tưởng mà vì nó hàng triệu người đã không tiếc xương máu hy sinh.

Hôm nay, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tròn 100 tuổi. Cách đây 70 năm, từ Trung Quốc, Bác Hồ triệu tập Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng. Biết bao nhiêu biến thiên của lịch sử đã đã dằng dặc từ những ngày tháng đó. Thật khó có thể kể hết những điều giản dị nhưng vĩ đại ấy trong cuộc đời Đại tướng. Nhưng điều quan trọng nhất, dù trong thời chiến hay trong thời bình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn mãi là một tượng đài thiêng liêng trong tâm thức mỗi con người Việt Nam.

Có thể khẳng định tầm vóc của ông vượt lên trên chiến tranh và những vinh quang của chiến thắng để đạt tới những giá trị bất biến của lương tri con người. Đó chính là tinh thần nhân văn cao cả trong khao khát và sự cống hiến quên mình cho một xã hội tiến bộ. Ông đã trở thành vị Đại tướng của tinh thần cách mạng, nơi lý tưởng lớn lao nhất là tự do và hạnh phúc cho mỗi con người.

Những ngày tháng này, hạnh phúc lớn của dân tộc Việt Nam là ông vẫn đồng hành trong mỗi bước đường của đất nước và mỗi trăn trở cho một cuộc sống tiến bộ hơn. Trong ông, hẳn tinh thần cách mạng không bao giờ ngừng nghỉ. Và cuộc cách mạng ấy đã bắt đầu chỉ bằng một ước mơ giản dị “người cày có ruộng”…

Thanh Tùng