Điểm mới nổi bật của dự thảo Luật này là việc bổ sung quy định về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong bảo vệ thông tin cá nhân, tại khoản 1 Điều 20: Thiết lập kênh thông tin trực tuyến để tiếp nhận kiến nghị, phản ánh của tổ chức, cá nhân về vấn đề liên quan đến bảo vệ thông tin cá nhân. 

Điều này thể hiện sự tiếp thu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước nhiều bức xúc của các đại biểu trong các buổi thảo luận về tình trạng số điện thoại bị thu thập, phát tán trái phép, bị quấy rối bởi những tin nhắn mời mua bất động sản, mua bảo hiểm, trúng thưởng hoặc rao bán sim điện thoại... Rồi thông tin cá nhân bị rao bán một cách công khai trên mạng mà chỉ cần bỏ ra vài trăm ngàn đồng người ta có thể đã mua được một danh sách hàng chục ngàn thuê bao di động kèm theo tên tuổi, nghề nghiệp và khả năng mua sắm...

Về “Bảo vệ thông tin cá nhân”, có ý kiến đề nghị bổ sung thêm những nội dung liên quan đến thông tin riêng và bảo vệ thông tin riêng. Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, việc bảo vệ thông tin riêng cũng như thông tin cá nhân là vấn đề thời sự không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Vì thế, nhiều quốc gia có các đạo luật riêng về vấn đề này. 

Trong phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật chỉ quy định các vấn đề liên quan đến kỹ thuật, nhằm đảm bảo thông tin truyền đưa trên mạng được nguyên vẹn, không bị gián đoạn, sửa đổi hoặc phá hoại, được bảo mật tốt. Tuy trong dự thảo Luật không điều chỉnh vấn đề liên quan đến nội dung thông tin và thông tin riêng nhưng tiếp thu ý kiến của ĐBQH, tại Điều 18 “cập nhật, sửa đổi và hủy bỏ thông tin cá nhân” đã được chỉnh sửa và quy định rõ.

Kết quả biểu quyết thông qua Luật an toàn thông tin mạng, sáng 19/11.

Hơn nữa, vấn đề này cũng đã được quy định khá cụ thể tại các văn bản Luật khác như: Bộ luật dân sự (Điều 38 về quyền bí mật đời tư); Bộ luật hình sự (Điều 125 về tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác); Luật công nghệ thông tin (Điều 9 về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, Điều 12 về các hành vi bị nghiêm cấm); Luật báo chí (Điều 10 về những điều không được thông tin trên báo chí)...

Về “Kinh doanh trong lĩnh vực an toàn thông tin mạng”, có ý kiến ĐBQH cho rằng quy định về giấy phép kinh doanh và giấy chứng nhận đủ điều kiện cung cấp dịch vụ, sản phẩm an toàn thông tin mạng không rõ ràng, khó hiểu. Đồng thời đề nghị chỉ có một loại giấy phép; và với mỗi loại dịch vụ, sản phẩm an toàn thông tin cần có điều kiện kinh doanh phù hợp.

Tiếp thu ý kiến ĐBQH, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo Ban soạn thảo và các cơ quan liên quan rà soát lại toàn bộ quy định về kinh doanh trong lĩnh vực an toàn thông tin mạng, bảo đảm thống nhất với Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp; gộp quy định về các giấy phép, giấy chứng nhận đối với các loại sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng chỉ còn lại 1 loại giấy phép là Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng. Như vậy, vấn đề cấp phép đã được đơn giản hóa tối đa, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp và người dân.

Để không ảnh hưởng đến hoạt động thường xuyên, liên tục của doanh nghiệp, dự thảo Luật cũng thống nhất kéo dài thời hạn giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng là 10 năm.

Quỳnh Vinh