Vào dịp sinh nhật lần thứ 75 (tháng 5/1965), Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu suy ngẫm, viết những dòng đầu tiên của “Tài liệu tuyệt đối bí mật” – chính là bản Di chúc lịch sử gửi lại thế hệ mai sau. Không nhiều người biết, trước khi đặt bút viết Di chúc, Bác Hồ đã đến thăm Di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc, đọc lại những di cảo trên các văn bia tại đây, suy ngẫm từng câu, từng chữ để hiểu rõ hơn tư tưởng “Dân là gốc” của cha ông. Là Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất (danh hiệu do UNESCO tôn vinh từ năm 1987), Chủ tịch Hồ Chí Minh hội tụ những tinh hoa của dân tộc và thời đại, thấm nhuần tư tưởng của các bậc tiền hiền: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” và “Lấy khoan thư sức dân làm kế sâu rễ, bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước”…

Bởi vậy, trong bản Di chúc lịch sử, sau những lời căn dặn về Đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đau đáu, trăn trở phải làm sao không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân. Vấn đề đầu tiên Người nhấn mạnh chính là “Con người”. Di chúc viết:  “Đầu tiên là công việc đối với con người. Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần tự lực cánh sinh”…

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm công tác chính sách với người có công, cũng như chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ. Người nhấn mạnh trong Di chúc: “Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét. Những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rèn luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm. Đảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ ta đảm đang đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”…             

Nhìn lại lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam, đặc biệt ở những giai đoạn “Vua sáng, tôi hiền”, người dân đều được chăm lo đời sống, mở rộng sản xuất, an cư lạc nghiệp, thì đất nước luôn “thực túc binh cường”, cảnh thái bình thịnh trị khắp nơi nơi… Đó là một trong những căn nguyên để dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc, giữ vững nền độc lập và mở rộng bờ cõi.

Kế thừa truyền thống của cha ông, ngay từ “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” gửi tới Hội nghị Versailles năm 1919, đến “Chính cương, sách lược vắn tắt” năm 1930 khi thành lập Đảng, tới “Tuyên ngôn Độc lập” mùa thu năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nhấn mạnh mục tiêu giải phóng con người, chăm lo đời sống của nhân dân. Đến bản Di chúc lịch sử, sau khi căn dặn những vấn đề lớn về “công việc đối với con người”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói tới nông dân với tất cả tình cảm trân trọng và Người đề nghị miễn thuế nông nghiệp, cũng là sự khoan thư sức dân: “Trong bao năm kháng chiến chống Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”.

Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong mọi chủ trương, chính sách, Đảng và Nhà nước ta đều nhất quán mục tiêu phát triển kinh tế gắn với bảo đảm an sinh xã hội. Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng đặt ra nhiệm vụ: “Phải coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là trong tình hình kinh tế khó khăn, suy giảm”… Với quan điểm đó, Chính phủ đã tích cực thực hiện “Chiến lược an sinh xã hội Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020” với 6 mục tiêu lớn để đến năm 2020 cơ bản hình thành một hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân; bảo đảm để người dân có việc làm, thu nhập tối thiểu, tham gia bảo hiểm xã hội; bảo đảm hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi thu thập thấp, người khuyết tật nặng, người nghèo…); bảo đảm cho người dân tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin); góp phần giảm nghèo bền vững, ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội.

Với những biện pháp đồng bộ, với quan điểm “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, tất cả từ con người và vì con người, Đảng và Nhà nước ta đang nỗ lực tiến hành phát triển kinh tế gắn với bảo đảm an sinh xã hội, cũng chính là khoan thư sức dân, yên dân, để dân cường nước thịnh.

Duy Hiển