Chế tác vàng.

Gần một trăm năm trước, trong 36 phố phường Hà Nội, phố Hàng Bạc được coi như "thủ đô" của nghề kim hoàn. Hồi ấy, đường phố Đinh Liệt còn lởm chởm đá tai mèo và nước Hồ Gươm vẫn có thể tràn vào đến tận nơi, nhưng cả dãy phố, kể từ rạp Chuông Vàng trở lên đến Hàng Ngang, tất cả đều là cửa hàng vàng.

Phố xưa & nghề cũ

Ngay từ thủa ban đầu, khái niệm cửa hàng vàng đã bao gồm cả việc buôn bán và sửa chữa, chế tác. Nhưng kinh doanh nghề kim hoàn ngày đó còn sơ sài lắm và cái chính là chưa có chuyện pha tạp của chất liệu vàng như hiện nay. Các "tên tuổi" của nghề này gồm những Quảng Tường, Đức Tín, Nghĩa Lợi, Đức Thái, Thiên Bảo... và họ đều ít vốn, nghe đâu chỉ vài ba lạng đã đủ ra nghề, nhưng tất cả họ đều tinh thông và khéo léo.

Truyền rằng đầu thế kỷ XX, có người thợ cả tên là Lê Xuân Tuế, từ tỉnh Đông ra Hà Nội mở nghề kim hoàn và chiêu mộ đệ tử. Cửa hàng của ông tọa lạc tại số nhà 76 Hàng Bạc bây giờ và có mấy trò giỏi như các ông Thế, Tú, Bân, Đĩnh, trong đó người học trò xuất sắc là Nguyễn Danh Tú, người quê ở Châu Khê, Bình Giang, Hải Dương, ra đất Hà Nội theo học thầy Tuế từ năm 13 tuổi.

Thợ kim hoàn ngày ấy được tuyển rất kỹ. Vào nghề họ phải mất cả tháng để tìm hiểu và cầm cho quen những dụng cụ như búa, rũa, kéo, rồi cách cán, giát vàng và mãi sau đó mới đến những kỹ thuật nấu vàng, ngả vẩy hay đổ tháo (vào khuôn). Vàng Hà Nội bao giờ cũng đỏ au, thường là nhập ngoại từ Pháp và mang các nhãn Kim Thành, Đạt Tín, Rồng Vàng... trong khi vàng miền Nam thường có ánh xanh do có khoảng 1% platin bên trong. Khi xưa, một hàng vàng loại lớn cũng chỉ có lưu lượng ngày cỡ 200 lạng vàng là cùng, nghĩa là ít hơn hẳn ngày nay.

Các bà, các cô ngày xưa thường ưa đeo hoa, xuyến, nhẫn, kiềng và vòng, khác hẳn bây giờ chỉ thích dây, nhẫn và hoa các kiểu. Chất của vàng cũng đơn giản hơn, từ 0 đến 10 tuổi, trong đó, 8 tuổi (ứng với 18 cara) trở xuống được gọi là vàng Tây, ngoài ra là vàng ta từ 22 đến 24 cara (10 tuổi). Cách gọi ấy đã được phổ biến đến mọi ngõ ngách Việt Nam và đều được thừa nhận cho đến bây giờ.

Cụ Nguyễn Danh Tú, chủ nhân cửa hàng Phúc Thành, số nhà 141 phố Hàng Bạc, là trò ruột của thầy cả Tuế năm xưa nhớ lại rằng, thời ấy, thầy mình đang làm nghề, khách đến là đóng ngăn kéo lại ngay, thợ kim hoàn giữ nghề đến thế! Thầy Tuế từng giảng cho trò: "Nghề kim hoàn của ta, ăn nhau ở cái sự tỉ mẩn. Một cái nhẫn thôi, anh cũng phải đánh sao cho nó có thể soi gương được mới là lúc thành nghề". Cụ Tú còn thuộc lòng, phải thật tận dụng bột vàng, loại bột rơi ra khi chế tạo, mài rũa đồ vàng mà có, theo đó người ta dùng đồ dẫn là muối hạt và gạch non giã nhỏ, dây ra bột và kéo mỏng ra rồi rắc bột vàng vào quấn lại cho vào lò đốt lên... cuối cùng đồ dẫn vàng được thải ra để có được vàng lá. Cánh thợ kim hoàn miền Bắc hơn người ở chỗ ấy, chỉ ở đó, danh hiệu "thợ thập thành" mới có, bởi từ lâu họ làm nghề từ A đến Z mà không chia thành từng công đoạn để có nhiều thợ như ở đàng trong.

Phố mới & cơ chế mới

Trước năm 1954, nghiệp đoàn của ngành kim hoàn đã được thành lập và lấy tên là "Công đoàn vàng". Tổ chức này đã đôi ba lần có hàng đi dự triển lãm tại "Đấu xảo", tức khu vực Cung Văn hóa Hữu nghị bây giờ. Từ năm 1962, giới nghề ở Hà Nội được mời vào Hợp tác xã (HTX) Hồng Châu, sau này thành lập thêm bộ máy để gọi là Công ty Mỹ nghệ vàng bạc Hà Nội. Một số thợ giỏi đã vào HTX và được hứa là làm ở đây chẳng khác gì cơ quan Nhà nước, có đủ cả chế độ lúc còn làm và sau khi về hưu. Tuy thế, sau bao năm tồn tại và qua 2 lần đổi tiền, khác hẳn với một số ngành khác như xe đạp, điện máy, các thợ kim hoàn lần lượt trở về tay trắng, họ không nhận được bất cứ một chế độ nào! Một cụ bà ở phố Hàng Bông trả lời chúng tôi rằng, khi các cụ hỏi thăm thì được nghe rằng quỹ xã hội của thành phố không có! Thế là cực chẳng đã, nhiều người phải bỏ nghề hay tìm cách khác làm ăn, còn lại những người "tâm huyết" nhất đã gồng mình lên để tồn tại, để giữ lấy nghề truyền thống do cha ông để lại.

Cuộc ganh đua bắt đầu. Một bên là mấy cửa hàng vàng của Nhà nước, một ở Bờ Hồ và một tại phố Hàng Ngang. Nhà nước giao vốn, con người, công cụ và nhà xưởng để kinh doanh, tuy vậy đa số thợ kim hoàn ở đây đều chưa phải là "cao thủ", thậm chí có người chỉ học qua quýt vài ba tháng là ra nghề! Trong khi ấy, các cửa hàng tư nhân phải tự lo toàn bộ, ngoài việc tìm địa điểm để mở cửa hàng, phải mua sắm mọi thứ, tìm thợ giỏi và sáng tạo ra những mẫu mã mới nhằm cạnh tranh trên thị trường. Và có lẽ chính cái khát vọng tiềm ẩn bấy nay của người thợ kim hoàn Việt Nam đã khiến họ tồn tại và phát triển trong cam go và giông bão thời thị trường. Cửa hàng Nhà nước thua lỗ, xưởng kim hoàn ở phố Hàng Ngang phải cho tư nhân thuê lại, nhưng bên cạnh đó, khối này cũng lo lắng vì thuế má ngày càng tăng.--PageBreak--

Cụ Nguyễn Danh Tú cho biết, khoảng 3 - 4 tháng là tăng thuế một lần, trung bình mỗi sổ môn bài khoảng 5 triệu đồng/tháng, còn những cửa hàng to như Đức Kim, Bảo Tín, Tân Minh, thuế suất còn gấp 2 - 3 lần thế. Dân kim hoàn cũng đang nghe ngóng quanh vấn đề cổ phần hoá có liên quan đến nghề này, nhưng biết hỏi ai! Từ năm 1990, một số thợ có uy tín đã đứng ra thành lập một tổ chức mang tính phường hội, đặt tên là Hội Kim hoàn Hà Nội nhưng chưa được Nhà nước chính thức công nhận, hiện nay lại nghe rằng, sắp có Hội Kim hoàn Việt Nam, song "Kinh cung chi điểu", bà con bảo nhau "án binh bất động" bởi cái án "Công đoàn vàng" năm xưa vẫn còn đó. Giới kim hoàn chưa mấy tin tưởng vào sự quan tâm của chính quyền và họ cho rằng, những người quản lý ngành ít quan tâm đến cách tổ chức và tập hợp bà con, mà chỉ biết có chuyện thu thuế, trong khi dân không được "biết" và "bàn", nhưng điều lo lắng này đến nay vẫn chưa có lối ra.

Ngổn ngang nghề vàng

Nghề kim hoàn thực chất cũng là nét văn hóa của dân tộc, đồ trang sức Việt Nam ít nhiều mang hơi thở của tâm hồn Việt Nam. Cuộc sống đi lên, nhu cầu mọi mặt cũng tăng lên, trong đó có cả vấn đề đồ trang sức. Tuy nhiên, dấu hiệu lộn xộn là rõ nét, từ gốc đến ngọn, bên cạnh đó là những băn khoăn khi hành nghề của giới thợ kim hoàn.

Trước hết về nguồn. Có lẽ, chưa bao giờ ở ta "đội quân" tìm vàng lại đông đảo đến thế, bất chấp pháp luật đến thế! Nhưng họ không đến nỗi "mù" cả, năm trước tại Tòa án xét xử vụ án mạng xảy ra ở khu vực đào vàng trên rừng Bắc Giang, một bị can là sinh viên Bách Khoa cho hay, anh ta đã đọc sách cổ mà đi tìm vàng. Chẳng hạn, theo sách "Quảng Bác vật" hay "Địa kính đồ" của Trung Hoa cổ đại, người ta hay chỉ ra những dấu hiệu có vàng trên mặt đất, họ bèn bảo nhau nhắm mắt mà đào. Lâu lâu cũng đào, đãi được ít nhiều quặng hay bụi vàng... thế là lại sinh ra các tai họa khác như buôn bán lậu, trộm cướp, trong khi các cơ quan chức năng chỉ lo trừ cái họa trước mắt là chính.

Ở Hà Nội, dân thợ vẫn băn khoăn về việc Nhà nước quy định hành nghề. Theo đó, nếu đủ 50 tỷ đồng mới được mở hàng bán vàng thoi, 5 tỷ đồng được buôn bán vàng (ở nông thôn là 3 tỷ đồng), dưới 3 tỷ chỉ là sửa chữa đồ trang sức. Quy định này theo giới nghề là chưa thỏa đáng vì nhiều lẽ. Thứ nhất, hiện nay, các cửa hàng vàng có vốn lớn thường không phải là dân "xịn" về nghề, vì thế, người tiêu dùng khó bề có được loại hàng có chất lượng cao. Thứ hai, các hàng lớn thường là "tay mơ" nhưng mạnh vốn, nhiều đôla, trong khi xu thế hiện nay, nhất là khách du lịch Tây, thường chỉ mua thứ trang sức nhỏ nhẹ tinh xảo, cho nên quy định trên sẽ làm giảm đi khả năng phô diễn tài năng của thợ kim hoàn Việt Nam.

Cùng với quy định trên, giới thợ kim hoàn cũng băn khoăn trước các biện pháp hành chính hiện tại. Năm 2000, sau rất nhiều vụ tấn công của bọn tội phạm vào các hiệu vàng, nhất là vụ "Kim Sinh" ở Hà Nội, dân kim hoàn lại có nỗi lo mới mà không biết kêu ai. Một lần, khi trao đổi với chúng tôi, một cán bộ có trách nhiệm của Công an thành phố Hà Nội cho biết, Công an thành phố đã phổ biến với các hiệu vàng rằng, để phòng chống kẻ gian, trước tiên mỗi hộ cần tự tạo ra những an toàn cho mình, sau đó là mối liên hệ với Công an khu vực, đồng thời các đơn vị Công an phường cần nâng cao trách nhiệm mỗi khi xảy ra sự cố.

Vẫn biết, thợ kim hoàn bao giờ cũng kiêm mua, bán vàng. Tuy thế, "bản đồ" kim hoàn thành phố cho thấy, một mặt vẫn là dấu hiệu tự phát trong kinh doanh, mặt khác, cơ chế điều giải khi chẳng may họ mua phải hàng gian còn nhiều chỗ chưa hợp lý.

Đi tìm câu trả lời cho vấn đề ấy, chúng tôi đã gặp hai cụ bà ở hai cửa hàng vàng mặt phố Hàng Ngang và các cụ cho rằng, việc quản lý thợ kim hoàn khá lỏng lẻo, hai nữa khi kẻ gian lấy vàng đem bán có bao giờ chúng nói ra nguồn gốc vàng, vậy khi phát hiện ra lại quy tội "tòng phạm" cho thợ vàng là không thỏa đáng. Cũng vậy, đôi khi có kẻ đào đãi vàng về đem bán "của giời cả", chả lẽ họ không được mua! Các cụ cũng tỏ ra phân vân trước quy định cấm sử dụng đôla tại cửa hàng vàng. Phải chăng, cùng với những động thái khác, những băn khoăn của các cụ đã phản ánh đúng thực trạng đáng suy ngẫm của nghề kim hoàn thời nay?

Nguyễn Lưu