Ga Diêu Trì nằm ở phần đầu con đường này. Nghe nói đây là một phần của đường “Thượng Đạo” xưa, mà quan quân Lý -Trần từng đi để “bình Chiêm”; mà Quang Trung cùng các đô đốc của mình từng vào ra để “dẹp Trịnh”, “trừ Nguyễn”, “bình Thanh”...

Không may, tàu hỏa ra Bắc chậm 2 tiếng! Đi cùng tôi là một sĩ quan thuộc Nhà văn hóa Quân đoàn, Thượng úy Lương Hải Nhuận và đồng chí lái xe có họ tên là Nguyễn Xuân Soạn.

Con đường tuyệt đẹp chạy ngang rừng cao su gần tới Quốc lộ 19.

Thực ra, hai người bạn đường mà tôi vừa kể, nhận lệnh Quân đoàn, hộ tống tôi cùng anh trai tôi, anh Đỗ Trung Cẩn, xuống ga Diêu Trì và chỉ được quay về đơn vị sau khi anh em tôi đã lên tầu ra Bắc.

Vì tầu chậm những 2 tiếng, tức là tới 3 giờ sáng, chúng tôi mới có thể chia tay nhau, chúng tôi chọn một quán bia nhỏ bên ga, dùng một chút cho lại sức và đợi tầu.

Vừa định nâng ly, Lương Hải Nhuận kêu lên:

- Không được! Chúng ta không thể chạm ly mà thiếu bác Cẩn.

Rồi không để tôi kịp nói gì, Nhuận ra xe, nâng anh tôi bằng hai tay, đưa vào quán, đặt lên chiếc ghế nhựa bên bàn. Nhuận bầy đủ cả ly bát trước anh tôi.

- Thế là tròn mâm bốn - Nhuận khẽ nói.

Tôi rơi nước mắt. Anh Cẩn của tôi đó. Anh hai của tôi đó. Bây giờ, anh nằm gọn trong một chiếc túi du lịch, sau một lớp ni lông và một lớp vải liệm!

Phải, anh tôi hy sinh ngày 28 tháng 3 năm 1971 ở Tây Nguyên, lúc tròn 30 tuổi. Anh nhập ngũ năm 1965 và “Đi B” (Đi chiến trường miền Nam) cùng năm. Bây giờ, gần sáng, tại Diêu Trì, sau 28 năm trời, nhờ Quân đoàn 3 giúp đỡ, tôi mới có thể đưa hài cốt anh trai mình rong ruổi về quê và mới được chạm ly với anh, trong hoàn cảnh ấy!

Nhắc tới Quân đoàn 3, tôi không thể không dừng lại ở đây để kể về sự “nghĩa hiệp” của các anh em tại đây, trong việc này.

Số là, khi vào đến Pleiku, tôi có đến làm việc với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Gia Lai để xin phép họ cho tôi được bốc mộ anh tôi về Bắc. Một cán bộ phụ trách ở đó cho tôi biết, việc ấy là không thể!

Lý do : Lúc ấy chưa có nghị quyết liên bộ (giữa Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội và Bộ Quốc phòng) cho phép đưa hài cốt liệt sĩ rời nghĩa trang.

Về lý, tôi đành chịu! Nhưng về tình thì tôi không biết làm thế nào. Cha tôi đã mất (1984), mẹ tôi lúc ấy cũng đã 88 tuổi rồi. Bao năm qua, cha mẹ tôi ngày ngày đau đáu khôn nguôi vì chưa đưa được anh tôi về!

Nhìn từ đèo Gia Bắc, núi non trùng điệp dưới mây trời trong xanh.

Đem nỗi lòng ấy tâm sự với các anh em ở Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3, ai cũng ái ngại cho chúng tôi. Rồi cuối cùng, một vị chỉ huy nói lớn:

- Có cách rồi! Chiều nay, Quân đoàn sẽ cử một cán bộ chính sách đi mời người quản trang vào Bộ Tư lệnh để trao đổi. Nếu anh ấy đồng ý giúp thì đêm nay ta bốc mộ bác Cẩn. Bốc xong, xe quân đoàn chờ sẵn chân đồi, lập tức chở bác xuống Diêu Trì, mộ phần bác thì cho xây lại như cũ. Còn nếu quản trang không đồng ý, Quân đoàn sẽ giữ anh ấy lại trong doanh trại và ta vẫn thực hiện công việc theo kế hoạch. May mắn làm sao, người quản trang đồng ý và “kịch bản xấu nhất” đã không phải dùng đến!

Đêm hôm ấy, tôi cùng ba sĩ quan của Quân đoàn 3: Trần Đức Lan - Đại tá - Chánh Văn phòng Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3, Trung tá Hà Quân ở Cơ quan Chính trị Quân đoàn và Thượng úy Lương Hải Nhuận - cán bộ Nhà Văn hóa Quân đoàn như tôi đã kể ở đầu bài; bỏ xe máy ở chân đồi sắn cạnh nghĩa trang, trèo tường vào gặp người quản trang. Mọi việc diễn ra như kế hoạch và rồi anh tôi mới đến được Diêu Trì cùng chúng tôi như tôi đang kể.

Trở lại với Diêu Trì.

Thế là cứ mỗi một lần nâng ly, chúng tôi lại cùng chạm vào ly của anh tôi. Mắt ai cũng cay xè và mặt mũi chúng tôi, trong mắt mọi người ở đó lúc ấy, chắc hẳn là khác thường lắm!

Đến một lúc, không thấy ai rót bia cho chúng tôi nữa! Gọi, chỉ có cô chủ quán rón rén và run rẩy tới bên bàn. Cô ấy bảo:

 - Các em chúng nó nhìn các bác chạm ly mà hãi quá, không đứa nào dám ra nữa! Em cũng thế, nhưng vì các bác gọi mà phải ra vậy! Thật sự là thế nào, các bác ơi!

Khi ấy, tôi đành phải đứng lên và nói rõ sự tình rồi có lời:

 - Sự thực là như vậy. Nếu nhà hàng không thuận, chúng tôi xin được dời đi. Còn nếu nhà hàng thông cảm, tôi xin được thắp một nén nhang khấn anh tôi, để anh phù hộ cho nhà hàng ta luôn phát đạt.

Cô chủ quán đáp:

 - Chưa biết thì chúng em rất sợ. Giờ biết rồi, không sợ quá nữa. Các bác cứ ngồi cho đến lúc tàu về.

Y hẹn, tôi châm một nén nhang, khấn xin anh tôi phù hộ cho nhà hàng và theo gót cô chủ quán, cắm lên bát hương cầu lộc của họ.

Tàu về, tôi chia tay Nhuận và Soạn, lên tàu cùng hài cốt của anh mình, ra Bắc. Sáng sớm hôm sau, tầu về đến ga Hàng Cỏ. Do đã hẹn trước, vợ tôi đón sẵn ở đó và chúng tôi thuê xe đưa hài cốt anh mình về quê - về xã Phùng Xá, huyện Mỹ Đức, Hà Đông cũ, nay là Hà Nội. Cũng do hẹn trước mà khi chúng tôi về đến nơi, tại sân vận động xã, các vị lãnh đạo “Quân - Dân - Chính - Đảng” và đông đảo đồng bào Phùng Xá đã chờ sẵn, tiến hành lễ truy điệu và đón anh tôi vào Nghĩa trang Liệt sĩ xã. Kỳ lạ nhất là khi đồng chí Chủ tịch xã đọc xong điếu văn truy điệu, tôi mới biết, hôm ấy cũng là ngày (dương lịch) anh tôi hy sinh! Trước đó, theo tập tục cúng giỗ dân gian, trong đầu tôi chỉ nhớ ngày âm lịch (mùng ba tháng Ba) thôi. Và rồi bỗng nhiên, toàn bộ hương trên chiếc lư lớn như chiếc vạc, cùng bốc cháy, cháy hết cả chân hương, cháy đến bằng mặt cát! Anh tôi giờ đã thực về nhà chăng?

Nhiều năm trước, cha mẹ tôi không thể chờ anh tôi và đã khuất núi. Bây giờ, chắc dưới suối vàng, cha mẹ tôi đã có thể bớt ngậm ngùi.

Bây giờ, tất cả các anh em trực tiếp giúp tôi ngày ấy đều đã nghỉ hưu. Tôi cũng vậy. Nhưng cứ đến ngày 28 tháng 3 dương lịch hoặc ngày mùng ba tháng Ba âm lịch, rồi ngày 27 tháng 7 hằng năm, tôi lại không thể không nhớ Quân đoàn 3, con đường 19 và ga Diêu Trì được.

Khi bốc mộ anh tôi, tôi thắp hương, đọc rồi đốt hai bài thơ tôi viết tại Nghĩa trang Liệt sĩ Pleiku trong những ngày chờ di dời hài cốt anh mình, một bài viết về toàn thể 3.000 ngôi mộ liệt sĩ ở đó (có 3 ngôi mộ tập thể!) và một bài viết riêng cho anh Cẩn của tôi. Theo nhật ký của bác sĩ Lê Cao Đài, người mở ra Bệnh viện Tây Nguyên thời chống Mỹ (Bệnh viện 211), thì trong tổng số thương bệnh binh nhập viện và không thể cứu nổi ở đây, chỉ có 15% hy sinh trực tiếp vì bom đạn. 85% liệt sĩ còn lại, hy sinh vì rất nhiều lý do khác như : Sốt rét, đói, tai nạn đường rừng... Trong đó, nhiều nhất là vì sốt rét! Tôi cũng được nghe kể rằng một lần, mới đây thôi, đội “Quy tập hài cốt liệt sĩ” của Quân khu Bốn đang đi giữa rừng già trên đường Trường Sơn cũ thì thấy tít trên cao, một chiếc võng Ca-pơ-rông lính đang đung đưa trên trời giữa hai cây lớn. Trèo lên, trong võng là... một bộ hài cốt liệt sĩ ta! Họ đoán rằng, thời chống Mỹ, người chiến sĩ này, vì sốt rét hoặc đói giữa rừng, đã buộc võng vào hai cái cây kia, nằm nghỉ và không bao giờ trở về nữa! Lâu năm, cây lớn dần và nâng mãi chiếc võng cùng  liệt sĩ lên cao!

Hai bài thơ ấy như sau:

Đỗ Trung Lai