Cuộc đời cách mạng chịu nhiều gian khổ

17 tuổi, đồng chí Lê Đức Thọ đã đứng trong đội ngũ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Tháng 10/1929, đồng chí vinh dự được kết nạp vào Đông Dương cộng sản Đảng. Ngày 7/11/1930, đồng chí bị thực dân Pháp bắt giam, tra tấn dã man và kết án tù khổ sai chung thân. Năm 1931, đồng chí bị đày ra nhà tù Côn Đảo. Tại địa ngục trần gian - Côn Đảo, 20 tuổi đồng chí được tín nhiệm cử vào Ban Thường vụ chi uỷ nhà tù và Bí thư chi bộ. Năm 1936, trước sức đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân ta và phong trào Bình dân ở Pháp, bọn thực dân ở Đông Dương phải trả tự do cho một số tù chính trị, trong đó có đồng chí Lê Đức Thọ. Ra tù, trở về Nam Định, đồng chí tiếp tục bắt liên lạc với Đảng và xây dựng một số cơ sở bí mật của Đảng ở Nam Định.

Năm 1939, biết rõ đồng chí Lê Đức Thọ là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt phong trào cách mạng ở Nam Định, thực dân Pháp cho mật thám theo dõi, khám xét, bắt đồng chí và khép tội "phần tử nguy hiểm cho an ninh", kết án 5 năm tù đưa đi giam giữ ở Hà Nội, Sơn La và Hoà Bình. Trong lao tù độc ác của bọn thực dân, bị địch tra tấn dã man, đồng chí vẫn luôn luôn nêu cao khí tiết của người cộng sản, không khai báo hoạt động của Đảng, thường xuyên tổ chức học tập chính trị, lý luận cách mạng, động viên bạn tù giữ vững tinh thần chiến đấu. Trong thời kỳ hoạt động bí mật, đồng chí đã ba lần bị địch bắt, hai lần bị kết án, tổng cộng 15 năm tù. Những năm lưu đày, khổ sai ở Côn Đảo, Hà Nội, Sơn La, Hoà Bình, đồng chí luôn tôi luyện ý chí cách mạng, thể hiện tinh thần bất khuất và lòng kiên trung với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Năm 1944, ra tù, đồng chí được Đảng đưa về hoạt động ở An toàn khu, phụ trách công tác bảo đảm bí mật, an toàn cho An toàn khu. Tháng 8/1945, tại Hội nghị toàn quốc của Đảng, đồng chí được cử vào Thường vụ Trung ương Đảng.

Đồng chí Lê Đức Thọ gặp gỡ các đại biểu về dự Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam Ninh năm 1976. Ảnh tư liệu.

Năm 1948, đồng chí được cử thay mặt Trung ương Đảng vào miền Nam trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ. Được giao trọng trách Phó Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ, đồng chí Lê Đức Thọ đã cùng Thường vụ Xứ uỷ chăm lo xây dựng kiện toàn bộ máy lãnh đạo, chỉ đạo của Xứ uỷ, củng cố và thành lập mới nhiều ban chuyên môn, như: Ban Tổ chức, Ban Dân vận, Ban Công vận, Nông vận, Thanh vận, Tôn giáo, Hoa vận, Khơ me vận...; cử nhiều cán bộ của Xứ ủy trực tiếp xuống các khu, tỉnh để nắm tình hình và chỉ đạo phong trào; đảm bảo giữ mối liên hệ trực tiếp và thông suốt với Thường vụ Trung ương Đảng và Bác Hồ.

Năm 1958, đồng chí từ chiến trường miền Nam ra Bắc, được Bộ Chính trị phân công làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương. Năm 1967, đồng chí được Trung ương Đảng giao nhiệm vụ Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Sau cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, từ tháng 5 năm 1968 đồng chí làm cố vấn đặc biệt của Đoàn đại biểu Chính phủ ta tại Hội nghị Paris về Việt Nam.

Gắn bó cả cuộc đời với công tác tổ chức xây dựng Đảng

Trong công tác tổ chức xây dựng Đảng, đồng chí Lê Đức Thọ đặc biệt quan tâm nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở của Đảng. Ngay trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ ở miền Bắc, đồng chí đã đề xuất và chỉ đạo thực hiện cuộc vận động xây dựng chi bộ, đảng bộ cơ sở "bốn tốt" (sản xuất, chiến đấu tốt; chấp hành chính sách tốt; công tác quần chúng tốt và củng cố Đảng tốt). Cuộc vận động đã đem lại những kết quả quan trọng: tổ chức cơ sở Đảng được củng cố, phát huy tác dụng lãnh đạo sâu sát, toàn diện đối với mọi hoạt động ở cơ sở, bảo đảm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ sản xuất, chiến đấu và chính sách của Đảng, của Nhà nước, tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng.

Trên cương vị người phụ trách công tác tổ chức, cán bộ của Đảng trong nhiều năm, đồng chí Lê Đức Thọ đã có những đóng góp quan trọng cho Đảng trong việc hoạch định đường lối, chính sách về tổ chức, cán bộ của Đảng qua các thời kỳ cách mạng và chỉ đạo tổ chức thực hiện trong thực tiễn. Tư tưởng, tác phong, phương pháp làm việc của đồng chí Lê Đức Thọ để lại nhiều bài học quý cho những người làm công tác tổ chức. Những quan điểm, giải pháp và kinh nghiệm trong công tác xây dựng Đảng và công tác tổ chức, cán bộ của đồng chí Lê Đức Thọ tới nay vẫn còn nguyên giá trị lý luận và giá trị thực tiễn, và đó là những bài học kinh nghiệm bổ ích, quý báu đối với công cuộc đổi mới hiện nay.

Người cố vấn đặc biệt trong Hội nghị Paris

Trong cuộc hòa đàm lịch sử kéo dài 5 năm ở Paris (1968-1973), đồng chí Lê Đức Thọ đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của một nhà ngoại giao chiến lược thời đại Hồ Chí Minh. Là “một người năng nổ, xông xáo, kiên nghị, thường được cử đi những nơi quyết định vào những lúc quyết định”, nên khi được Bác Hồ và Bộ Chính trị giao nhiệm vụ phụ trách đàm phán trực tiếp với Mỹ, đồng chí Lê Đức Thọ đã xác định đó là một nhiệm vụ cách mạng và ý thức sâu sắc được những thuận lợi và khó khăn cần phải khắc phục để hoàn thành nhiệm vụ đặc biệt này. Trước khi sang Paris, đồng chí Lê Đức Thọ đã được Bác Hồ gọi vào nơi làm việc ở Phủ Chủ tịch nói chuyện và dặn dò. Trong suốt quá trình chỉ đạo và thực hiện trực tiếp đàm phán với đại diện của Mỹ ở Paris, đồng chí đã luôn quán triệt sâu sắc và vận dụng triệt để tư tưởng và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh.

Từ kinh nghiệm xương máu của Hiệp định Geneva và từ chiến trường Nam Bộ trực tiếp đánh Mỹ, đồng chí Lê Đức Thọ thấu hiểu sâu sắc vai trò riêng và mối quan hệ giữa “đánh” và “đàm” trong bối cảnh mới. Đồng chí Lê Đức Thọ đã chỉ đạo kết hợp chặt chẽ giữa đàm phán với đấu tranh dư luận phục vụ cả đàm phán và chiến trường. Đồng chí đã trực tiếp tác động vào nội bộ Mỹ, tranh thủ dư luận Mỹ ngay trong các phiên họp. Đồng thời, đồng chí chỉ đạo tập hợp lực lượng báo chí làm công tác tuyên truyền tranh thủ tất cả các diễn đàn để vừa đề cao chính nghĩa và thiện chí hòa bình của ta, vừa tố cáo tội ác của Mỹ - ngụy, phê phán các thủ đoạn nhằm hạn chế cuộc chiến đấu của ta như đòi hai bên cùng xuống thang, cùng rút quân, khôi phục khu phi quân sự v.v nhằm tranh thủ tối đa sự đồng tình và ủng hộ của dư luận thế giới đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Đồng chí luôn khuyến khích cán bộ phát huy vai trò, trách nhiệm cá nhân trong công tác: “Các cậu cứ mạnh dạn mà phát biểu không phải việc gì cũng xin ý kiến, như vậy còn gì là tư thế người phát ngôn”.

Suốt đời tận tụy phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc, đồng chí Lê Đức Thọ đã toàn tâm, toàn ý phấn đấu vì hòa bình, ấm no hạnh phúc cho nhân dân, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới, tên tuổi của đồng chí, sự nghiệp cao cả và những cống hiến to lớn của đồng chí đối với Đảng, với dân tộc vẫn mãi trường tồn...

Trần Xuân