Nhờ sự chỉ dẫn của một chủ lò than “thổ phỉ” đã giải nghệ ở xã Văn Đức, mượn “con” xe tòng tọc, bộ quần áo “cá rô đớp”, chiếc bao tải cũ mèm, tôi mò vào vùng than Chí Linh trong vai cửu vạn thất nghiệp đi mua than cho vợ và nhân thể kiếm việc làm.

Qua trạm thu phí cầu Bình trên quốc lộ 183 khoảng 300 mét rẽ phải, gò lưng vượt tiếp 4km đường gập ghềnh đá sỏi, bụi cát mù mờ, 8h sáng tôi có mặt tại bãi khai thác than làng văn hóa thôn Bờ Dọc, xã An Lạc. Ngay dưới tán đồi bạch đàn là gần chục lò khai thác than hoạt động hối hả như một công trường, than cám, than cục chất thành đống, tiếng máy nổ đinh tai, lều lán dựng tạm bợ, người đào than nhem nhuốc...

Bầu Ngọc (chủ lò than tên là Ngọc) tuổi ngoài 40, mặt vuông, mày rậm, giọng trịch thượng bảo tôi: “Bán lẻ giá 800 đồng/kg. Mua bao nhiêu tùy”. Bước khởi đầu mua bán suôn sẻ, tiếp phương án hai tôi “xoắn” lấy bầu Ngọc xin được gia nhập đội quân đào than của anh ta.

Một lò than đã ngừng khai thác ở xã Văn Đức, huyện Chí Linh, Hải Dương.

Đúng lúc lò thiếu nhân công nên sau vài câu nắm “trích ngang”, thấy tôi thành thật, bầu Ngọc “OK”. Ngọc gọi Sỹ “chuyên gia” lại bảo anh ta đưa tôi xuống lò thử việc. Tiêu chuẩn trở thành người đào than không khó, chỉ cần đủ sức khỏe, bản lĩnh để chui xuống đường lò sâu hút, chật chội, thiếu dưỡng khí, đặc biệt dám chấp nhận rủi ro.

Tên đầy đủ của Sỹ “chuyên gia” là Nguyễn Văn Sỹ, 35 tuổi, quê Đông Triều, Quảng Ninh; có thâm niên 8 năm “chui” trong các lò than thổ phỉ ở vùng than Quảng Ninh, bị sập lò ba lần nhưng đều may mắn thoát chết, nay dạt về Chí Linh hành nghề chống lò thuê.

Sỹ thản nhiên kể về bốn nguy cơ gây tai nạn cho người đào than là đất lở, đá rơi, khí độc, điện giật...

Đường lò cái sâu hun hút, bốn thành lò chống bằng gỗ tạp, cách một đoạn có một bóng điện chiếu sáng. Đang đi bỗng khựng lại, Sỹ nói: “Đến cầu trượt rồi. Từ đây người đào than phải đi tiếp vào các lò nhánh ăn theo vỉa than”.

Bốn nhánh lò sâu hút tối om. Cầu trượt là hai cây gỗ nằm song song gầu than di chuyển trên đó nhờ chiếc bàn trượt có móc kéo (như chiếc xẻng lớn), đào than đến đâu thì nối cầu trượt đến đó. ở lò cái có một người dẫn hướng chuyên làm nhiệm vụ phân phối gầu than cho các lò nhánh và bấm chuông điện để người điều khiển tời trên mặt đất kéo than lên.

Tôi và Sỹ cùng lom khom chui vào một lò nhánh, dù có quạt thông gió thổi từ trên xuống nhưng mùi than nồng nặc, thiếu ôxy tạo cảm giác ngột ngạt. Hai chúng tôi bò được khoảng 30 mét thì “chạm” vỉa, thấy một người đang hì hục đào than trong ánh sáng lờ mờ của ngọn điện 75W.

Số phận những phu than

Vùng than Chí Linh có trữ lượng khoảng 13 triệu tấn, tập trung chủ yếu ở ba xã kề nhau là Thái Học, An Lạc, Văn Đức. Những năm đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã tiến hành khai thác. Sau này Nhà nước thành lập mỏ than Cổ Kênh với hàng ngàn công nhân làm việc. Năm 1992, mỏ than này giải thể vì làm ăn kém hiệu quả.

Vài năm trở lại đây, những hộ dân bắt đầu khai thác ngay trong chính vườn đồi nhà mình. Thấy lợi nhuận thu được từ làm than quá lớn, một số người đầu tư vốn mua đất đồi, mở lò khai thác, thuê những người có kinh nghiệm ở Quảng Ninh về làm thợ chống lò, còn người đào than thì thuê tại địa phương.

Đường lò cái được đào thẳng đứng xuống lòng đất từ 17 - 25 mét với kích thước 1,2x1,4m, còn đường lò nhánh đi ngang, độ nông sâu tùy thuộc vào chất lượng than, có vỉa gặp toàn đá phải bỏ. Thông thường độ sâu của lò từ  30 - 70 mét, “cao thủ” nhất là lò của anh Huy ở thôn Bờ Dọc (An Lạc) sâu  tới 120m, càng xuống sâu việc chèn chống càng khó.

Mỗi lò có khoảng từ 7 - 15 người chia thành hai ca làm việc. Một chủ lò đã giải nghệ cho biết, tiền đầu tư mỗi lò than từ vài chục đến hàng trăm triệu đồng, lại hoạt động trái phép nên mục tiêu hàng đầu mà các chủ lò đặt ra  là khai thác sao cho thật nhanh, thật nhiều thì mới kịp thu hồi vốn và có lãi, công tác đảm bảo lao động chỉ là hàng thứ yếu.

Hiện nay vùng than Chí Linh có khoảng 125 lò khai thác than thổ phỉ, thu hút hàng trăm nhân công lao động suốt ngày đêm.

Hầu hết người làm việc ở đây đều biết là rất nguy hiểm, nhưng vì bát cơm, manh áo mà phải liều thân. Làm việc trong điều kiện cực nhọc, tai nạn luôn rình rập nhưng thu nhập của mỗi người cũng chỉ 800.000 - 1,2 triệu đồng/tháng. Từ đầu năm 2004 đến nay, đã có ít nhất 5 người chết vì sập hầm ở vùng than này.

Điển hình ngày 7/1/2005, tại bãi khai thác than ở thôn Vĩnh Đại 7 (Văn Đức) xảy ra một vụ sập lò làm anh Nguyễn Công Đức, 26 tuổi, người trong thôn thiệt mạng và một người khác bị thương. Phải mất hơn 1 ngày đào bới mới tìm được xác anh Đức ở nhánh lò sâu tới 45m.

Còn mới đây ở khu lò Trại Nẻ (An Lạc) sập lò làm anh Tiến ở Đông Triều, Quảng Ninh và anh Dương Văn Tình, quê Tân Dân (Chí Linh) bị thương nặng.

Ngoài tai nạn sập lò còn có tai nạn do than tảng rơi vào đầu, điện giật, nhiễm khí độc. Theo giải thích của Sỹ trong vỉa than có nhiều chỗ chứa khí độc, chỉ cần mũi cuốc chim đụng phải, hơi độc phun ra có thể làm thợ lò tử vong ngay.

Kể từ khi UBND tỉnh Hải Dương có công văn cấm khai thác than trái phép, đến nay đã gần một năm nhưng nạn khai thác than thổ phỉ ở vùng than Chí Linh vẫn không hề giảm mà còn gia tăng đến mức báo động. Một trong những nguyên nhân của sự chậm trễ vẫn là “trên bảo dưới không nghe”.

Còn chủ lò và người đào than thì quả quyết với tôi rằng, hàng tháng, chính quyền thôn, xã vẫn đi kiểm tra các lò khai thác than để thu thuế?

Lê Thành Vinh