Bà Phạm Thị Kim Chi kể: Những ngày các bà ra nuôi chồng ngoài Côn Đảo, nhà tù không có phòng riêng dành cho vợ chồng tù nhân. Việc âu yếm tình cảm với nhau không có điều kiện. Phải đợi màn đêm buông xuống, từng đôi, từng đôi mới dắt díu nhau ra hàng dương ngoài bãi đảo tâm sự.

Gió biển ngoài đảo gầm rú ầm ào suốt ngày đêm. Mấy ai ngờ bên những hàng dương nghiêng ngả trên bờ đảo lại có một sự sống kì diệu. Những cặp tù nhân yêu nhau nồng cháy, tha thiết. Hình như họ bù đắp cho nhau nhưng ngày nhớ nhung xa cách. Lần ra đảo đầu tiên thăm chồng, bà Chi vừa thẹn vừa lo. Nhưng khi nghe chồng kể lại câu chuyện 200 tù cộng sản đóng 5 con thuyền lớn dưới hầm suốt cả năm trời chuẩn bị cho chuyến vượt ngục năm 1952 mà bọn chúa đảo vẫn không hay biết thì bà mới yên tâm.

Thiếu tướng Vũ Ngọc Nhạ (trái), Đại tướng Võ Nguyên Giáp và tác giả.Ảnh chụp tháng 5/2001.

Sau lần ra đảo nuôi tù trở về, cả ba bà đều mang thai. Riêng bà Kim Chi, hai lần ra thăm chồng ngoài Côn Đảo về sinh được hai người con, một trai, một gái. Thế mới biết cuộc sống con người thật kì diệu.

Bà Ngô Thị Như, người ngồi đốt tài liệu mật của địch ở nhà lao tòa Khâm Huế, mười năm sau khi ra nuôi chồng ở nhà tù Côn Đảo bà lại làm một việc mạo hiểm đầy ý nghĩa. Bằng nghiệp vụ của mình, ông Lê Hữu Thúy đã lấy được bản báo cáo mật của chúa đảo gửi cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu về con số tù chính trị tại Côn Đảo. Bà đã mang tài liệu này về chuyển cho cơ sở của cách mạng. Lúc đó tại Hội nghị Paris bàn về việc trao trả tù chính trị, Thiệu công bố ở Côn Đảo có 5.000 tù nhân.

Chúng định ỉm đi hơn một nửa số tù chính trị để chờ cơ hội thủ tiêu. Trong khi đó, phía ta đưa ra chứng cớ từ bản báo cáo của chúa đảo là 12.000 người. Tài liệu gốc này làm Thiệu choáng váng, mất uy tín nặng nề trước Hội nghị và dư luận. Vị Giáo hoàng đã hủy bỏ cuộc tiếp kiến với vợ chồng Nguyễn Văn Thiệu và gọi y là con chiên ma mãnh, dối trá. Bản tài liệu là chứng cớ buộc địch phải trao trả hết 12.000 tù chính trị ở Côn Đảo cho ta năm 1973.

Hai mươi năm sống trong lòng địch, vừa nuôi chồng trong tù, vừa nuôi dạy 9 người con ăn học khôn lớn, đến nay tất cả đều phương trưởng. Bà Như bảo, những năm tù đầy gian khổ ác liệt, bà không sợ, nhưng sau ngày hòa bình bà lại hoang mang lo sợ. Bởi chồng bà, ông Lê Hữu Thúy, người ra tù vào tội, chịu mọi cực hình tra tấn vẫn một lòng trung thành, tận tâm làm việc cho cách mạng.

Nhưng cơ quan lại cho ông về nghỉ việc sớm, không còn đảng viên, không chế độ chính sách, ông phải về nuôi heo, nuôi thỏ để kiếm sống. Mãi đến năm 1990, tức 15 năm sau, ông mới được “xét lại”, được phục hồi đảng tịch, được thăng cấp từ Thượng úy lên Đại tá. Và đặc biệt, ông được Đảng và Nhà nước tuyên dương là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Hôm đi dự lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng, ông đưa bà cùng đi. Ông bà rất cảm động, cười mà nước mắt cứ ràn ra.

Bà Nguyễn Thị Nhẫn, bà Phạm Thị Kim Chi cũng trong tâm trạng buồn vui lẫn lộn. Năm 1975, sau ngày miền Nam giải phóng, bà Nhẫn cùng chồng (ông Vũ Ngọc Nhạ) về thăm làng Cọi Khê, nơi chôn nhau cắt rốn của ông bà. Thấy đoàn xe về làng, dân trong thôn xóm kéo ra rất đông. Khi ông bà Nhạ từ trên xe bước xuống, cả làng ngớ ra. Họ không ngờ một gia đình đi theo giặc mà họ đã từng căm thù nguyền rủa, thì nay lại được Đảng, Quân đội trịnh trọng đưa về làng thăm quê hương. Sau chuyến đó, dân làng mới hiểu: thì ra trong những năm tháng mọi người coi khinh, lên án ông Nhạ, bà Nhẫn là những kẻ bất lương theo giặc, thì chính những năm tháng này ông bà lại phải cam chịu bao nhiêu cay đắng, khổ sở ở bên kia chiến tuyến. Cuộc hội ngộ hôm ấy, dân làng Cọi Khê không ai cầm nổi nước mắt.

*

*   *

Chúng tôi tới thăm gia đình ông Vũ Ngọc Nhạ ở quận 3, TP Hồ Chí Minh đầu năm 2001. Ông đã ở tuổi ngoài 70, vẫn hoạt bát, tinh thông. Nhìn ông bình dị, phúc hậu, chúng tôi không thể tưởng ông đã từng trải qua gần một nửa thế kỷ gian khổ đối mặt với bao khó khăn thử thách và đã hoàn thành nhiệm vụ một cách thần kỳ. Ông vẫn nhẹ nhàng, cẩn trọng niềm nở tiếp mọi người. Ông đưa chúng tôi xem cặp hồ sơ lưu những kỷ niệm ông còn giữ được gồm: tấm ảnh anh bộ đội Cụ Hồ Vũ Ngọc Kép, đầu đội mũ nan bọc vải, trên mũ chăng lưới dù đứng trước cổng Tỉnh đội Thái Bình năm 1948.

Ảnh Vũ Ngọc Nhạ đưa vợ con bước xuống tàu há mồm ở Hải Phòng di cư vào Nam năm 1954. Ảnh gia đình ông ở căn nhà lá trong xóm chợ Thị Nghè năm 1960. Lá thư của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gửi Hai Long (Vũ Ngọc Nhạ) viết trên một trang giấy đã ngả màu vàng. Lá thư của người thư ký riêng cho ông Thiệu gửi Hai Long đề ngày 6 tháng 3 năm 1975 v.v...

Làm cố vấn cho ba đời Tổng thống và làm vị tướng tình báo xuất sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam, nhưng cuộc sống gia đình ông vẫn bình dị, khó khăn như bao gia đình khác. Bị địch tra tấn gãy hai rẻ xương sườn, là thương binh 2/4 lại bị bệnh trọng, sức khoẻ của ông ngày một sa sút. Ông thường lui tới thăm hỏi, giúp đỡ các gia đình đồng đội trong lưới tình báo năm xưa. Một vị tướng sống giữa đời thường khiêm nhường, đức độ, bạn bè ai cũng khâm phục, kính nể.

Vinh quang từ những chiến công, độc đáo của ông, của đồng đội ông trong lưới A22 nhiều người vẫn nhớ. Ai cũng nghĩ ông đã mãn nguyện với niềm vui, với sự cống hiến to lớn của mình cho cách mạng, cho đất nước. Nào ngờ có những điều xót xa, trăn trở từ đáy lòng ông những năm sau này đã mấy ai hay! Hình như ông cố nén chịu, vì ông hiểu sự “bạc mệnh” của những người làm nghề tình báo, thời nào cũng thế. Một số người vẫn nghi hoặc ông, bảo ông ăn ở hai lòng. Nghi là ông thông đồng với đối phương. “Không ngả theo chúng làm sao ông ta tồn tại được trong hang hùm suốt ba đời Tổng thống ngụy”.

Mỗi lần nghe vậy, ông chỉ lặng im và cắn răng cam chịu. Biết bày tỏ lòng mình với ai đây? Bao năm chiến tranh ông đã vượt qua trăm ngàn thử thách nghiệt ngã, vậy mà những năm hòa bình có lúc ông đã không vượt qua. Một người con của ông cho chúng tôi biết: có lần ông đã định uống thuốc... để đi theo đồng đội, nhưng không thành. Có lẽ, vì dằn vặt, nghĩ ngợi nhiều, con bệnh quái ác phát ra ngày càng trầm nặng. Cuối năm 2002, anh bộ đội Thiếu tướng tình báo Vũ Ngọc Nhạ đã vĩnh viễn ra đi!

Cuộc đời những người chiến sỹ làm tình báo nghiệt ngã là thế. Những người vợ, người thân của họ cũng chung hoàn cảnh như vậy. Vinh quang, cay đắng, công trạng và hận thù luôn song hành tồn tại trong họ. Vượt qua nó không thể ngày một, ngày hai, mà có khi phải đánh đổi bằng cả đời người