Học sinh vùng cao.

Khác với miền xuôi, trẻ em đến trường mầm non chỉ để làm quen với con chữ để khi vào lớp 1 không còn bỡ ngỡ, trẻ em miền núi đặc biệt là ở các nơi xa xôi, hẻo lánh đến trường mầm non là để làm quen với tiếng phổ thông. Tầm quan trọng là vậy, nhưng biên chế giáo viên của mỗi tỉnh miền núi đều có hạn nên hầu hết giáo viên của ngành học mầm non là những người đi dạy tình nguyện, không lương (muốn vào biên chế thì phải qua khâu tình nguyện này). Nguồn sống của họ dựa hoàn toàn vào sự đóng góp của dân có con em đi học, thế nhưng dân miền núi vốn nghèo, đói thế nên ai yêu nghề, yêu trẻ thơ thì cũng phải đói cái đói của dân, nghèo cùng cái nghèo của dân.

Là huyện vùng sâu, vùng xa của tỉnh Thái Nguyên nên Võ Nhai còn nghèo lắm! Càng vào các xã, các bản làng xa xôi, cái đói, cái nghèo càng “hiện nguyên hình”. 28% dân số thuộc diện đói, 15 xã thì có đến 14 xã đặc biệt khó khăn (nằm trong Chương trình 135).

“Dân muốn thoát đói, thoát nghèo thì phải có cái chữ”! - ông Phó trưởng phòng Giáo dục huyện Ma Văn Son nói. Để con chữ ngược núi, vượt đèo đến với dân bản thì chẳng dễ chút nào. Khâu nào cũng gặp trở ngại, nhưng lắm gian nan và nhiều chông gai nhất là ngành học mầm non. Ông Son cho biết, hiện tại toàn huyện Võ Nhai có 15 trường mầm non (trong đó chỉ có 3 trường công lập, còn lại là trường “dân nuôi”) nhưng vẫn chưa đáp ứng được hết nhu cầu được đến trường của các em trong độ tuổi.

Nguyên nhân của việc cung không đủ cầu này, theo cô Phạm Thị Hiệp - phụ trách ngành học mầm non huyện Võ Nhai thì hiện tại, huyện vẫn đang thiếu giáo viên đứng lớp. Trong những năm qua, ngành học mầm non Võ Nhai đã huy động được 99 giáo viên ngoài biên chế (trong tổng số 131 giáo viên) dạy chữ... không lương cho 1.832 học sinh (trong tổng số 2.212 học sinh). “Đấy là kết quả tuyệt vời, bởi đời sống của giáo viên mầm non ngoài biên chế khó khăn lắm, nhiều người đang có ý định bỏ nghề” - cô Hiệp bức xúc nói.

Theo ông Ma Văn Son thì chẳng cần so sánh với các ngành nghề khác, ngay những người trong nghề với nhau cũng đã thấy sự thiệt thòi của giáo viên mầm non "dân nuôi". Giáo viên của những trường công lập (biên chế) được hưởng lương và tất cả các hình thức đãi ngộ khác, còn giáo  viên "dân nuôi" thì đã không được lương lại chẳng được sự ưu đãi nào, ngoài việc UBND tỉnh hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội (chia làm 2 loại, người dạy ở vùng khó khăn vừa là 42.000 đồng, dạy ở vùng đặc biệt khó khăn là 72.000 đồng).

Không lương, nên 99 giáo viên mầm non của huyện Võ Nhai phải dựa vào những đóng góp của dân. Tùy theo đời sống và mức thu nhập của từng vùng dân. Với mức đóng góp trên, cứ tính trung bình là 20.000/đồng/em/tháng thì mỗi tháng 99 giáo viên "dân nuôi" sẽ thu được từ 1.832 học sinh một khoản tiền là 36.640.000 đồng, như vậy mỗi giáo viên sẽ có khoảng 370.000 đồng tiền “lương”. Số tiền này cũng gọi là tạm đủ cho một cuộc sống tằn tiện, chắt chiu. Thế nhưng, theo ông Ma Văn Son thì chẳng có nhà nào chịu... đóng. Không phải dân không nhiệt tình với sự học của con em mình, mà họ không có tiền, nên “thu nhập” của giáo viên trở nên cấp bách.

Chúng tôi theo ông Lương Khánh Tăng, Bí thư Đảng ủy xã Thượng Nung, một xã nghèo nhất huyện Võ Nhai, ngược lên bản Lũng Hoài, nằm lọt thỏm giữa bốn bề dốc đá tai mèo.

Nói đến lớp học mầm non, Trưởng bản Lũng Hoài Lý Văn Dinh hồ hởi: “Cô giáo Thêm tốt lắm à. Từ ngày nó lên đây, bọn trẻ con của bản đã biết đọc cái chữ Bác Hồ rồi! Cả bản đội ơn cô giáo lắm à! Tối nay cô giáo Thêm đến nhà ta để nói chuyện đấy, nhà báo muốn hỏi gì thì hỏi nhá!”.

Đúng như lời Trưởng bản, tối đó, cô giáo Thêm đến, quần áo bê bết bùn đất do phải băng qua con đường xuyên rừng lầy lội. Nhà cô Thêm ở mãi dưới trung tâm xã, cách bản Lũng Hoài gần chục cây số đường rừng, thế nên để tiện cho việc lên lớp cô đã ở luôn trên bản, trong một ngôi nhà tranh được dân bản dựng cho ở ngay cạnh bìa rừng. Cứ mỗi tuần cô phải xuống núi một lần, thứ nhất là thăm gia đình, thứ hai là xin “cứu viện” bởi cô là giáo viên... “dân nuôi”. Thêm nghẹn ngào tâm sự: “Em đi học, bố mẹ phải nuôi đã đành, nay em đi dạy chẳng đỡ đần được bố mẹ thì thôi lại phải ăn bám nữa...".

Tuy không nhận được “lương” đầy đủ nhưng sáng nào cô Thêm cũng phải dậy từ khi ông mặt trời vẫn còn lấp ló sau những cánh rừng đại ngàn. Cô dậy sớm để đi đón học sinh. Cô tâm sự: “Mới vài tháng đến đây được sống trong tình thương yêu của dân bản, em rất cảm động và thấy mình làm được việc có ích cho họ. Dân bản còn đói, còn nghèo em sẵn sàng chịu đựng như họ. Có thể em sẽ gắn bó cả đời với Lũng Hoài". Nhưng đằng sau lời tâm sự của Thêm, vẫn ẩn chứa điều day dứt, trăn trở khó nói lên được. Dễ hiểu thôi, để chắp cánh cho ước mơ cao đẹp của các em "không có thực thì làm sao vực được đạo".

Chúng tôi đã gặp cô giáo “dân nuôi” Hoàng Mai Nở ở xã vùng sâu Dân Tiến, xã chỉ có những người dân tộc Tày từ bao đời sống trong cảnh tối tăm và người dân Mông đang khao khát cái chữ của Bác Hồ. Cô Nở chưa có gia đình, dù tuổi xuân đang cạn từng ngày. Hỏi thì cứ đùa: “Em xấu ai thương mà lấy!” nhưng tôi biết, giữa vùng rừng núi hoang sơ này, Nở là bông hoa đẹp được bao chàng trai ngày đêm trông ngóng. Về thị trấn, tâm sự với người bạn thân của Nở, tôi mới rõ nguyên nhân “vì sao em chậm lấy chồng” ấy. “Lương” của Nở bây giờ cũng chỉ vài chục nghìn một tháng, cô vẫn phải sống nhờ bố mẹ, bạn bè. Lấy chồng thì tiền đâu mà sống, mà chăm sóc cho con cái.

“Nếu không có cách nào tháo gỡ kịp thời những khó khăn cho giáo viên “dân nuôi” thì chuyện giáo viên bỏ nghề vì không trụ được là chuyện chắc chắn sẽ xảy ra!” - cô Phạm Thị Hiệp bức xúc nói. Còn theo ông Ma Văn Son thì mặc dù Nghị định 161 của Chính phủ về ngành học mầm non, từng bước chuyển hóa từ dân lập sang công lập đã ra đời từ rất lâu nhưng không có hiệu quả bởi cơ chế nên "việc "gánh chữ" lên ngàn vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

Mong sao các cấp chính quyền và ngành giáo dục các địa phương miền núi có cách tháo gỡ khó khăn, góp phần cùng với dân chăm lo cuộc sống cho các cô giáo ngành học mầm non đủ ăn, đủ mặc (ở mức cần thiết nhất) để các cô yên tâm gắn bó với nghề, không có ai “nửa đường đứt gánh”

Tú Xuân