Nhìn từ các vụ án này cho thấy, một số người khi nhận lời làm “giám đốc” công ty phần vì thiếu hiểu biết pháp luật, phần do không lường trước được ý đồ của kẻ giật dây sau lưng nên đã dễ dàng ký vào các hợp đồng kinh tế, văn bản pháp lý, hoặc vay tiền ngân hàng để tạo điều kiện cho kẻ xấu thực hiện hành vi phạm tội.

1. Bùi Duy Hùng (55 tuổi, trú tại phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội), Phó Giám đốc Công ty TNHH Thương mại và Đầu tư Phương Trung (viết tắt là Công ty Phương Trung). Sau khi thành lập công ty này, Hùng đã thuê người đứng danh làm giám đốc. Nhưng thực chất mọi hoạt động kinh doanh tài chính của công ty đều do Hùng điều hành. 

Do cả tin Hùng, vị giám đốc được thuê dưới sự chỉ đạo của Hùng đã ký nhiều hợp đồng kinh doanh, tạo điều kiện cho Hùng  lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt hơn 60 tỷ đồng của tổ chức tín dụng và cá nhân. 

Kết quả điều tra xác định, Công ty Phương Trung kinh doanh nhiều ngành nghề, trong đó có vận tải hàng hóa, vận chuyển hành khách, buôn bán ôtô… do ông Đỗ Anh Dũng (trú tại phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) làm Giám đốc Công ty. Quá trình kinh doanh, Hùng đã dùng chữ ký của ông Dũng để ký và đóng dấu Công ty vào một số hợp đồng mua, bán xe ôtô. Ông Dũng do nhận thức về pháp luật kém và tin tưởng Hùng dẫn đến việc bị Hùng lợi dụng để làm sai. 

Kết quả điều tra xác định, trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến tháng 10/2012, Hùng đã dùng thủ đoạn nhận tiền, nhận ôtô để cho thuê, sau đó dùng một ôtô bán cho nhiều người, hoặc thế chấp ôtô để vay tiền rồi bán ôtô đang thế chấp cho người khác để chiếm đoạt tổng số tiền hơn 33 tỷ đồng. Ngoài ra, Hùng còn có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của một tổ chức tín dụng, một ngân hàng và cá nhân với số tiền hơn 27 tỷ đồng. 

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ được gần hết xe ôtô là tài sản mà Hùng đã thế chấp tại tổ chức tín dụng và ngân hàng nên cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự của những cán bộ tín dụng và ngân hàng liên quan đến vụ án này.

2. Nguyễn Văn Sơn (55 tuổi, ở phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, Hà Nội), Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty Giấy Việt Hoa. Trước khi phạm tội, Sơn thành lập 10 công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn có địa chỉ ở miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên do Sơn làm Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên. 

Sau khi thành lập các công ty này, Sơn thuê người làm Giám đốc. Nhưng trên thực tế, từ việc làm thủ tục thành lập công ty, nguồn vốn, hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty đều do Sơn trực tiếp điều hành. Sơn đã chỉ đạo Công ty Sinh Phú (Đà Nẵng), do anh Nguyễn Hồng Son (em vợ Sơn) làm Giám đốc, ký hợp đồng với một công ty của Trung Quốc mua và nhập khẩu dây chuyền máy móc thiết bị sản xuất khăn giấy ướt với giá khoảng 5,6 tỷ đồng, sau đó chuyển về lắp đặt tại Công ty Tứ Liên (Hà Nội) do anh Nguyễn Hồng Thanh (em vợ Sơn) làm Giám đốc. 

Với mục đích để Công ty Tứ Liên vay được nhiều tiền của ngân hàng, Sơn đã thuê một người làm giả bộ tờ khai nhập khẩu của Công ty Sinh Phú và nhờ công ty của Trung Quốc ký khống lại hợp đồng thương mại cùng chứng từ kèm theo nâng giá trị dây chuyền sản xuất khăn giấy ướt lên hơn 66,2 tỷ đồng. 
Hai đối tượng Hùng (trái) và Sơn.

Đồng thời, Sơn chỉ đạo Công ty Tứ Liên và Công ty Sinh Phú ký khống các tài liệu liên quan thể hiện, Công ty Sinh Phú bán dây chuyền sản xuất khăn giấy ướt cho Công ty Tứ Liên với giá hơn 73,7 tỷ đồng. Sau đó sử dụng dây chuyền thiết bị nhập khẩu đã được nâng khống giá trị bằng các tài liệu giả làm tài sản thế chấp cho chi nhánh một ngân hàng ở Hà Nội để được vay số tiền 35 tỷ đồng.

Ngoài ra, Sơn còn mượn quyền sử dụng mảnh đất giá trị hơn 900 triệu đồng của gia đình cô ruột ở Hà Nội để Công ty Tứ Liên sử dụng làm tài sản thế chấp, đảm bảo cho các khoản vay tại ngân hàng. 

Để được ngân hàng giải ngân, Sơn tiếp tục sử dụng pháp nhân của Công ty Tứ Liên để ký khống ba hợp đồng mua nguyên liệu với ba công ty nước ngoài, sau đó thuê người làm giả ba tờ khai Hải quan và các chứng từ kèm theo giống như hóa đơn thương mại, phiếu đóng gói, giá trị hàng hóa khớp với từng hợp đồng. 

Khi đã được ngân hàng giải ngân số tiền 35 tỷ đồng, Sơn đã dùng 11 tỷ đồng trả các khoản nợ mà Công ty Giấy Việt Hoa đã nợ trước đó. Số tiền còn lại, Sơn sử dụng vào các mục đích cá nhân khác nhau. 

Tiếp đó, Sơn chỉ đạo Công ty Tứ Liên và Công ty Đồng Tâm (Lâm Đồng) ký khống hợp đồng kinh tế và về việc mua bán nguyên liệu sản xuất khăn ướt, lập khống 16 hóa đơn giá trị gia tăng, phiếu nhập kho, công văn đối chiếu công nợ… thể hiện việc Công ty Đồng Tâm bán nguyên liệu cho Công ty Tứ Liên. Sau đó sử dụng các chứng từ, tài liệu này đề nghị ngân hàng giải ngân theo các hợp đồng hạn mức tín dụng đã ký giữa ngân hàng và Công ty Tứ Liên. 

Bằng thủ đoạn này, chỉ trong thời gian ngắn, Công ty Tứ Liên đã được ngân hàng giải ngân số tiền mua nguyên liệu của Công ty Đồng Tâm hơn 65,4 tỷ đồng. 

Khi tiền được chuyển vào tài khoản của Công ty Đồng Tâm, Sơn đã chỉ đạo nhân viên chuyển khoản hoặc làm thủ tục rút tiền mặt chuyển lại cho Sơn để Sơn làm thủ tục đảo nợ cho chính Công ty Tứ Liên và các hợp đồng tín dụng khác của các công ty trong chuỗi công ty do Sơn thành lập, hoặc sử dụng vào các mục đích khác, chứ không sử dụng cho việc phát triển sản xuất kinh doanh của Công ty Tứ Liên như hợp đồng đã ký kết với ngân hàng. 

Khi cơ quan điều tra khởi tố vụ án, Công ty Tứ Liên còn nợ ngân hàng số tiền hơn 34,3 tỷ đồng.

Nguyễn Hưng