Cuộc đua giảm thuế xuống đáy

Tại Hội thảo “Hướng tới thu hút FDI bền vững tại ASEAN: Môi trường kinh doanh là động lực chính" do Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) và Tổ chức Oxfam Việt Nam phối hợp tổ chức mới đây, các chuyên gia đều nhận định khu vực ASEAN đang đối mặt với những thách thức lớn trong đại dịch COVID-19.

 Bên cạnh những khủng hoảng về kinh tế và y tế, dòng vốn FDI đổ vào các quốc gia đang phát triển của châu Á được dự đoán sẽ giảm xuống 30-40% và nguồn thu ngân sách từ thuế đang gặp khó khăn lớn. Các nước khối ASEAN cần phải lựa chọn giữa việc cạnh tranh không cần thiết giữa các quốc gia để thu hút đầu tư với việc cùng hợp tác, điều phối để đạt được nguồn thu ngân sách từ thuế bền vững, nhằm đầu tư cho giáo dục, y tế và các dịch vụ công thiết yếu khác để giảm nghèo đói và bất bình đẳng.

“Trước khi đại dịch COVID-19 xảy ra, các quốc gia khối ASEAN đã cạnh tranh nhau trong cuộc đua xuống đáy bằng cách giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và liên tục đưa ra các ưu đãi thuế rất lớn đối với các tập đoàn đa quốc gia mà không đem lại lợi ích thực sự. Thay vì chú trọng vào yếu tố chủ chốt trong việc quyết định khu vực đầu tư FDI là xây dựng môi trường kinh doanh vốn đã được chứng minh là yếu tố then chốt, các chính phủ trong khu vực lại đang áp dụng những chính sách thuế chỉ có lợi cho các công ty lớn của nước ngoài. 

Để đối phó với đại dịch và đạt được phát triển bền vững, khối ASEAN cần tránh rơi vào bẫy của cuộc đua không cần thiết”, báo cáo của VEPR cho biết. Cụ thể, trong vòng 10 năm qua, các nước thành viên ASEAN đang cạnh tranh với nhau trong một cuộc đua xuống đáy bằng cách giảm thuế suất thuế TNDN và liên tục đưa ra các ưu đãi thuế rất lớn đối với các tập đoàn đa quốc gia. Mức thuế suất TNDN trung bình của ASEAN đã giảm từ 25,1% vào năm 2010 xuống còn 21,7% vào năm 2020. 

Ngoài việc cắt giảm thuế suất thuế TNDN, việc áp dụng các ưu đãi lớn khác dựa trên lợi nhuận để thu hút FDI, như ân hạn thuế, cũng rất phổ biến ở quốc gia ASEAN. Chi phí của các ưu đãi thuế dư thừa có khả năng vượt quá lợi ích mà FDI mang lại. Việc cắt giảm thuế TNDN quá mức gây ra mối đe dọa đối với thu ngân sách quốc gia dưới hình thức chi qua thuế. Thất thu ngân sách do ưu đãi thuế doanh nghiệp ước tính bằng 6% GDP ở Campuchia và 1% GDP ở Việt Nam và Philippines.

“Các ưu đãi về thuế có thể tạo ra các ngoại ứng tiêu cực, gây ảnh hưởng xấu tới hiệu quả kinh tế. Các nước ASEAN khó có thể đương đầu với các hệ quả đó, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và y tế mà tất cả các nước đang đối mặt. Chúng ta cần phải lựa chọn giữa việc xây dựng xã hội bền vững với chính sách đất đai tốt, hay chỉ làm lợi cho các công ty đang ra sức giảm thiểu hóa đơn đóng thuế của họ. Lợi ích của ai sẽ được đặt lên trên hết?”, ông Ah Maftuchan, Giám đốc tổ chức PRAKARSA nhấn mạnh.

Việc ưu đãi thuế và thuê đất cho doanh nghiệp FDI đang khiến ngân sách hụt thu. Ảnh minh họa .

Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh

Bên cạnh các ưu đãi về thuế, việc sử dụng các ưu đãi phi thuế cũng phổ biến ở các nước ASEAN và góp phần làm trầm trọng thêm cuộc đua xuống đáy trong khu vực. Cạnh tranh trong việc cung cấp các ưu đãi phi thuế được thể hiện rõ nét ở các ưu đãi về đất đai, làm gia tăng sự bất bình đẳng về mặt kinh tế-xã hội, và cơ chế không minh bạch trong việc cấp ưu đãi đất đai ở một số nước đang tạo điều kiện cho tham nhũng và trục lợi. 

“Trong khi cạnh tranh về môi trường kinh doanh là cuộc đua để dẫn đầu, cạnh tranh về các ưu đãi thuế và đất đai là một cuộc đua xuống đáy. Việc cấp ưu đãi đất đai, đặc biệt là kéo dài thời hạn thuê đất, thiếu minh bạch, có thể làm tăng nguy cơ tham nhũng”, Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành, Sáng lập viên và Cố vấn trưởng VEPR nhận định.

Hiện nay, khu vực ASEAN đang phải đối mặt với tình trạng bất bình đẳng kinh tế chưa từng có; trong khi đó, một số quốc gia thành viên vẫn có tỷ lệ nghèo ở mức cao nhất trên thế giới và chính phủ của hầu hết các nước chưa có sự đầu tư đúng mức vào các dịch vụ công thiết yếu. Những ưu đãi thuế và phi thuế không cần thiết này ảnh hưởng đến khả năng huy động nguồn thu nội địa của các quốc gia, và từ đó sẽ ảnh hưởng đến chi tiêu cho các dịch vụ công thiết yếu nhằm chống đói nghèo và giảm bất bình đẳng. “Điều vô lý là những chính sách này không hẳn có hiệu quả thiết thực trong việc thu hút dòng vốn FDI như các nhà hoạch định chính sách thường nghĩ”, Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành nói.

Trên thực tế, đã có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, các chỉ số về môi trường kinh doanh mới là các nhân tố quyết định trong việc lựa chọn địa điểm đầu tư FDI. Cụ thể là ổn định kinh tế, ổn định chính trị, thị trường nội địa, khung pháp lý minh bạch, chất lượng lao động, chất lượng cơ sở hạ tầng, mật độ đường sá chất lượng tốt… “Các nước ASEAN cần hành động nhất quán cùng nhau trong cuộc chiến chống đói nghèo cho cuộc sống của hàng triệu người trong khu vực. Đã đến lúc phải nhìn nhận rằng các ưu đãi thuế và phi thuế đang làm trầm trọng tình trạng bất bình đẳng về kinh tế và xã hội và không phải là chìa khóa hướng tới đầu tư nước ngoài bền vững. Mỗi chính phủ cần có nguồn thu ngân sách bền vững để đầu tư cho y tế và giáo dục cũng như các dịch vụ công khác nhằm đầu tranh chống đói nghèo và bất bình đẳng; vì vậy, tất cả các quốc gia thành viên ASEAN cần đoàn kết và cùng ưu tiên việc cải thiện môi trường kinh doanh thay vì đưa ra các ưu đãi không có hiệu quả”, ông Mustafa Talpur, Quản lý cấp khu vực Chiến dịch Thu hẹp khoảng cách, Oxfam tại châu Á nhấn mạnh.

Từ thực tế và những ý kiến trên, nhóm nghiên cứu của VERP và Oxfam đã khuyến nghị các nước thành viên ASEAN cần ngăn chặn cuộc cạnh tranh trong việc đưa ra các ưu đãi đất đai, xây dựng các quy tắc để quản trị tốt các ưu đãi đầu tư và thống nhất danh sách các yếu tố môi trường kinh doanh quyết định trong việc thu hút FDI… Đặc biệt, cần lập “danh sách trắng” và “danh sách đen” về ưu đãi thuế ASEAN, trong đó chỉ rõ các thực hành thuế có hại và đưa ra lộ trình loại bỏ những ưu đãi này trong khu vực với thời hạn nhất định; đồng thời, các nước cần thống nhất một mức thuế suất tối thiểu cho toàn khu vực…

Hà An