Trước tình hình sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Than và khoáng sản Việt Nam trong 7 tháng năm 2012 gặp khó khăn, trên cơ sở kiến nghị của Tập đoàn, Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo giao Bộ Tài chính chủ trì giải quyết theo thẩm quyền và điều hành theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 231/TB-VPCP ngày 2/7/2012 của Văn phòng Chính phủ; trường hợp vượt thẩm quyền hoặc có ý kiến khác thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính đã có công văn số 12208/BTC-CST ngày 10/9/2012 báo cáo Thủ tướng Chính phủ và đề xuất biện pháp giảm thuế xuất khẩu than từ 20% xuống 10% nhằm tháo gỡ khóa khăn cho doanh nghiệp.

Trong 7 tháng năm 2012, toàn Tập đoàn tiêu thụ được 21,8% triệu tấn (trong nước 14,6 triệu tấn, xuất khẩu 7,2 triệu tấn) bằng 47,9% kế hoạch năm. Tồn kho tính đến ngày 31/7/2012 tồn trên 9 triệu tấn. Nguyên nhân chủ yếu là do lượng than tiêu thụ trong nước giảm mạnh (do tăng trưởng kinh tế chậm); giá than xuất khẩu giảm (do suy giảm kinh tế toàn cầu). Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam đã tiết giảm chi phí nhưng do giá xuất khẩu giảm nên với mức thuế xuất khẩu 20% thì giá thành than xuất khẩu cao hơn giá bán nên Tập đoàn không xuất khẩu được.

Theo Bộ Tài chính, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy giảm các nước có sản lượng sản xuất than lớn trên thế giới cũng đã có chính sách giảm thuế nhằm tăng lượng xuất khẩu than tại các nước này. Ví dụ như Indonessia (sản xuất khoảng 340 triệu tấn/năm, xuất khẩu khoảng 280 triệu tấn/năm) thuế xuất khẩu là 0%; Úc (sản lượng tương đương Indonessia) thuế xuất khẩu 0%; Trung Quốc (sản xuất trên 3 tỷ tấn/năm, vừa xuất khẩu và nhập khẩu than hàng trăm triệu tấn/năm), thuế xuất khẩu than 10%; Mông Cổ thuế suất thuế xuất khẩu than tối đa không quá 7%;  Nga thuế xuất khẩu 5%. Theo dự báo, giá than thế giới tiếp tục có xu hướng giảm do kinh tế thế giới chưa  phục hồi, cung về than vượt cầu. Vì vậy, nếu duy trì mức thuế suất thuế xuất khẩu than là 20% thì Tập đoàn sẽ không thể xuất khẩu được than

PV