Ông Trịnh Tuấn Mẫn – Giám đốc cùng nhiều cán bộ tại VDB Minh Hải đã bị khởi tố bị can cùng hành vi trên. Theo xác định bước đầu của Cơ quan điều tra, tổng số tiền mà VDB Minh Hải bị nợ, khó có khả năng thu hồi lên đến khoảng 1.200 tỷ đồng. Trong danh sách những “con nợ”… khủng có Công ty TNHH Chế biến thủy sản Minh Châu (Công ty Minh Châu) và Công ty TNHH Ngọc Châu (Công ty Ngọc Châu).

Để phục vụ cho công tác điều tra, mới đây, đại diện cho Công ty Minh Châu (gồm bà Phùng Thị Ngân – Giám đốc, cùng hai kế toán viên) đã trình bày chi tiết về quá trình vay vốn rồi trở thành “con nợ”… khủng của hai Công ty Minh Châu và Ngọc Châu, trước khi bà được ủy quyền điều hành.

Công ty Ngọc Châu có quan hệ tín dụng với VDB Minh Hải từ năm 2007. Đến cuối năm 2010, dư nợ gốc của Công ty với VDB là gần 71 tỷ đồng, nợ lãi gần 1,5 tỷ đồng.

Trụ sở Công ty Ngọc Châu.

Vào thời điểm 2010, cả hai Công ty Minh Châu và Ngọc Châu đều do ông Phan Xuân Minh làm Giám đốc. Ngày 1/6/2010, Hội đồng thành viên (HĐTV) của Công ty Minh Châu gồm ông Phan Xuân Minh (Chủ tịch) và Phan Xuân Nhựt đã ký giấy tiếp nhận nợ gốc, nợ lãi với đại diện của Công ty Ngọc Châu (gồm ông Minh và Lương Thị Chi).

Tiếp đó, ngày 10/6/2010, ông Minh với tư cách Giám đốc Công ty Minh Châu ký tờ trình gửi VDB Minh Hải về việc xin nhận nợ cho Công ty Ngọc Châu. Đến ngày 28/6/2010, sau khi đại diện hai Công ty ký lại giấy nhận nợ, cán bộ tín dụng lập tờ trình, ông Trịnh Tuấn Mẫn – Giám đốc VDB Minh Hải đã đồng ý phê duyệt. Cùng ngày, ông Mẫn và ông Minh đã ký Hợp đồng (HĐ) thừa kế quyền và nghĩa vụ số 176a/2010/HĐTDXK-NHPT PC với nội dung: VDB Minh Hải tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của ngân hàng. Công ty Minh Châu thừa kế toàn bộ quyền và nghĩa vụ của Công ty Ngọc Châu phát sinh theo các HĐ tín dụng XK và các HĐ bảo đảm tiền vay.

Trong quá trình làm “thượng đế” của VDB Minh Hải, Công ty Ngọc Châu từng ký với ngân hàng này 4 HĐ tín dụng XK, gồm HĐ số 116 ngày 31/5/2010; HĐ số 120 ngày 3/6/2010; HĐ số 129 và HĐ số 130 cùng ngày 7/6/2010.

Điểm chung của cả 4 HĐ vừa kể là để cho Công ty Ngọc Châu thu mua nguyên liệu, sản xuất hàng thủy sản XK. Thế nhưng, quá trình thực hiện việc xuất hàng, qua kiểm tra bộ chứng từ XK, đối chiếu với HĐ vay vốn của Công ty Ngọc Châu đều không đúng theo HĐ ngoại thương mà Công ty đã xin vay vốn thu mua nguyên liệu, sản xuất hàng thủy sản XK.  

Trong khi đối với hai HĐ 116 và 120 còn chưa thanh lý dứt điểm với VDB Minh Hải thì Công ty lại tiếp tục ký tiếp 2 HĐ mới là HĐ số 129 (vay 10 tỷ đồng) và HĐ 130 (15 tỷ đồng). Theo bà Phùng Thị Ngân cùng hai nhân viên kế toán, riêng đối với hai HĐ vừa kể này, Công ty Ngọc Châu đã không thực hiện việc trả nợ dù thời hạn trả nợ đã được Công ty cam kết thực hiện nghiêm túc trước đó, chậm nhất là 18 – 20/10/2010.

Và tính đến ngày vụ án được khởi tố, qua thực hiện các HĐ kể trên, Công ty Ngọc Châu còn dư nợ tại VDB Minh Hải gồm nợ gốc gần 38 tỷ đồng và nợ lãi gần 36,462 tỷ đồng.

Đối với Công ty Minh Châu, từ 2010, Công ty này đã có 7 lần ký HĐ tín dụng vay vốn của VDB Minh Hải (dư nợ 69 tỷ đồng); đồng thời nhận nợ của Công ty Ngọc Châu như đã kể nên tính tổng nợ gốc cuối năm 2010 của Công ty là 111,9 tỷ đồng, nợ lãi gần 7,5 tỷ đồng, tài sản đảm bảo gần 16 tỷ đồng. Và tính tới ngày vụ án được khởi tố (21/3/2014), Công ty Minh Châu còn nợ VDB Minh Hải gần 203 tỷ đồng, trong đó nợ gốc gần 108 tỷ đồng, nợ lãi trên 95 tỷ đồng và tài sản đảm bảo gần 22 tỷ đồng. Tính tới hết tháng 7/2014, tài sản đảm bảo của Công ty này (gồm quyền sử dụng đất, tiền gửi, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải) theo định giá của ngân hàng chỉ còn gần 18 tỷ đồng.

Về quá trình chuyển nhượng vốn góp tại Công ty Minh Châu, theo bà Phùng Thị Ngân, gần cuối năm 2011, ông Minh – Giám đốc Công ty bán 75,71% vốn góp của ông tương đương số tiền 26,5 tỷ đồng cho ông Phạm Tiến Dũng (ông Võ Văn Thừa bán 100% vốn góp cho ông Dũng là 1,5 tỷ đồng) và ông Dũng đã trở thành Chủ tịch HĐTV, kiêm Giám đốc Công ty. Đến ngày 21/6/2012, ông Dũng đã ủy quyền cho bà Ngân trực tiếp điều hành mọi hoạt động, sản xuất kinh doanh của Công ty Minh Châu…

Có nhiều dấu hiệu cho thấy Công ty (giai đoạn trước đây) từng thực hiện hành vi lừa đảo để chiếm đoạt tiền của ngân hàng.

Chiều 15/9, một nguồn tin của PV Báo CAND cho biết, qua kiểm tra 11 hợp đồng kể trên của hai Công ty Minh Châu và Ngọc Châu thì Công ty không có các tài liệu để cung cấp cho cơ quan điều tra, gồm: Bộ chứng từ XK (L/C, tờ khai hải quan, giấy chứng nhận xuất xứ, invoice, bill oflading, giấy chứng nhận kiểm nghiệm/kiểm dịch, giấy chứng nhận số lượng/chất lượng...), phiếu xuất, nhập kho và thẻ kho, sổ quỹ tiền mặt…

Binh Huyền