Thời gian qua, 4 ngành công nghiệp trọng yếu này tuy có sự tăng trưởng về lượng nhưng về chất là chưa thực sự bền vững và ngày càng bộc lộ những hạn chế, yếu kém trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ.

Chẳng hạn, trên 80% nguyên - vật liệu, phần lớn thiết bị và công nghệ phải nhập khẩu; sản xuất phục vụ sửa chữa thay thế, gia công lắp ráp là chủ yếu; trình độ quản trị sản xuất của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV)  phần lớn dựa vào kinh nghiệm, năng lực phát triển và khai thác thị trường còn thấp; hạn chế trong việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, nếu có cũng chỉ tham gia ở những công đoạn với công nghệ giản đơn, giá trị gia tăng thấp.

Một kết quả khảo sát của tổ chức JETRO - Nhật Bản mới đây cũng cho thấy, tỷ lệ nội địa hóa của các công ty Nhật tại Việt Nam rất thấp, chỉ đạt 33,2%, trong đó ở khu vực phía Nam là 19,1%, còn ở miền Bắc chỉ có 11%. Tỷ lệ nội địa hóa của công ty Nhật tại Việt Nam tuy có tăng qua từng năm nhưng vẫn còn rất thấp so với 54,8% tại Thái Lan và 43,1% tại Indonesia.

Thách thức lớn nhất với DN ngành công nghiệp hỗ trợ của thành phố là sản xuất đơn lẻ, ít vốn.

Ông Khoa cho rằng, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng trên xuất phát từ đặc điểm của DNNVV tại thành phố Hồ Chí Minh. Đó là sản xuất phân tán; vốn, tài sản ít nên khó tiếp cận nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng dẫn đến chậm đổi mới công nghệ nên năng suất - chất lượng sản phẩm thấp, giá thành cao, hiệu quả kinh doanh thấp; kéo theo lợi nhuận ít, khó tích tụ vốn để tái đầu tư. Từ đó DNNVV rơi vào vòng lẩn quẩn do năng lực cạnh tranh thấp. Chậm đổi mới công nghệ cũng kéo theo chất lượng, khả năng cung ứng thấp và giá thành sản phẩm cao. Trong khi các nhà lắp ráp lại có yêu cầu chất lượng cao, giá thành bằng hoặc thấp hơn so nhập khẩu, mà điều này chỉ những nhà cung ứng có trình độ công nghệ cao mới đáp ứng được.

Theo kết quả khảo sát của Sở Công Thương, trình độ công nghệ của phần lớn DNNVV chỉ đạt mức trung bình so với khu vực. Do đó, còn một khoảng cách công nghệ khá xa giữa các nhà lắp rắp và các nhà cung ứng nội địa. Trình độ công nghệ thấp đang là trở lực của DNNVV. Do đó, các nhà lắp ráp đầu tư tại Việt Nam nhưng vẫn phải nhập khẩu linh kiện, phụ kiện từ nước ngoài, đồng thời còn kéo theo những nhà cung ứng cho họ từ chính quốc. Đối với ngành công nghiệp hỗ trợ, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm là vô cùng quan trọng, bắt buộc các doanh nghiệp tham gia phải luôn cải tiến công nghệ phù hợp với nhu cầu thị trường. Thực trạng này đặt ra yêu cầu đối với các DNNVV phải đổi mới theo.

Sau hơn 10 cuộc hội thảo kết hợp khảo sát hiện trạng và lấy ý kiến của hơn 1.200 DNNVV tại thành phố, theo ông Khoa, phải chú trọng ưu tiên thu hút DNNVV đầu tư, nâng cao năng lực sản xuất, phát triển trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ phục vụ 4 ngành trọng yếu và hai ngành truyền thống là dệt may, giày da.

Trong giai đoạn đầu, cần tập trung ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ thuộc các ngành cơ khí chế tạo, hóa chất - nhựa - cao su nhằm thúc đẩy phát triển các sản phẩm hỗ trợ phục vụ cho các ngành công nghiệp khác. Trong quá trình phát triển, từng bước tạo môi trường sản xuất kinh doanh thuận lợi;  hướng tới sản xuất lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh sử dụng sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được sản xuất từ DNNVV trong nước; hình thành được hệ thống các DNNVV đủ mạnh, tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho các ngành công nghiệp trọng yếu, công nghiệp truyền thống; thúc đẩy chuyển giao công nghệ thông qua hợp tác sản xuất giữa các công ty FDI với DNNVV để nhanh chóng làm chủ công nghệ; phát triển được đội ngũ nhân lực quản lý, kỹ thuật, đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Để thu hút đầu tư, đồng thời hỗ trợ DNNVV phát triển công nghiệp hỗ trợ, ông Khoa cho biết, đã có 6 nhóm giải pháp trọng tâm được đề xuất, gồm: Hình thành trung tâm phát triển công nghiệp hỗ trợ, là đầu mối tiếp nhận, hỗ trợ giải quyết khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp thuộc lĩnh vực này trên địa bàn.

Yêu cầu của DNNVV trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ là chỉ cần thuê nhà xưởng diện tích nhỏ, khoảng 200 - 300m², trong khi thực tế các nhà đầu tư hạ tầng tại các KCX - KCN thường chỉ cho thuê đất với diện tích vài nghìn mét vuông trở lên. Do đó, trước mắt, TP Hồ Chí Minh cần có các chính sách khuyến khích để xây dựng khoảng 100.000m² sàn cho đối tượng DN trên thuê. Ngoài ra, để chuẩn bị đón nhận làn sóng đầu tư FDI sau TPP, thành phố cần dành khoảng 500ha đất trong giai đoạn đầu để thành lập các KCN, trung tâm giao dịch chuyên về công nghiệp hỗ trợ. Thành phố cũng phải xác định sản phẩm tiêu biểu, có lợi thế cạnh tranh cao để tập trung hỗ trợ.

Kèm theo đó là các chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho DNNVV; có cơ chế, chính sách đủ mạnh hỗ trợ DNNVV đổi mới công nghệ; xây dựng cơ sở dữ liệu công nghiệp hỗ trợ nhằm giúp doanh nghiệp có thông tin về nguồn cung và nhu cầu sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Đó sẽ là cơ sở để kết nối các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ với nhau và với các doanh nghiệp lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh.

Đ.Thắng