Sau sự kiện Quỹ quốc tế về bảo tồn thiên nhiên (WWF) liệt cá tra Việt Nam vào "danh sách đỏ" hạn chế sử dụng rốt cuộc lộ rõ việc buôn tín chỉ chất lượng, thì đã đến lúc Việt Nam phải có tiếng nói mạnh mẽ hơn và nhìn nhận thật nghiêm túc về định hướng phát triển nghề nuôi, chế biến cá tra, ba sa xuất khẩu với một tiêu chuẩn cụ thể, minh bạch và có tính pháp lý cũng như tính quốc tế chung nhất.

Thị trường cá tra, basa xuất khẩu ngày một mở rộng và Việt Nam trở thành thành viên WTO, con cá tra, basa xuất khẩu của Việt Nam đã trở thành một trong những mặt hàng cạnh tranh mạnh trên thị trường quốc tế. Điều đó đã thể hiện rõ khi cá tra đã thâm nhập hầu hết các thị trường lớn như Nga, Mỹ, Liên minh châu Âu (EU)…, đánh bật nhiều mặt hàng cùng loại của các nước, đem về hàng tỷ USD mỗi năm.

Cũng vì lý do ấy, chúng ta đã nhiều phen phải đấu tranh pháp lý từ áp tên gọi để đánh thuế chống bán phá giá; rào cản kỹ thuật về tiêu chuẩn từ vùng nuôi, thức ăn, nguồn nước… và chúng ta mỗi năm tốn không ít chi phí để nhận các tín chỉ do tổ chức ở "trời Tây" tự nghiên cứu và buộc ta áp dụng.

Điều đó mới nhìn vào sẽ thấy có lẽ hợp lý khi áp dụng tiêu chuẩn sạch để có cá chất lượng cao, theo kịp tiêu chuẩn thế giới. Tuy nhiên, qua nhiều năm và mỗi thị trường cứ tự đưa ra tiêu chuẩn thì cũng là lúc chúng ta nên xem lại cách làm ăn của chúng ta đã thực sự hợp lý hay chưa. Hiện người nuôi cá tra, ba sa đang đứng trước khó khăn trong việc phải lựa chọn một trong số những tiêu chuẩn đều được quảng cáo là tốt nhất như GlobalGap, SQF 1000, HACCP hay ASC...

Cá tra Việt Nam đang đứng trước nhiều tiêu chuẩn chất lượng do các tổ chức quốc tế đặt ra.

Mỗi tiêu chuẩn chỉ có phạm vi công nhận trong một vài quốc gia, song áp lực phải đạt được những tiêu chuẩn này đang trở thành gánh nặng của ngành Thủy sản Việt Nam. Để nhập khẩu vào các nước thuộc EU, doanh nghiệp chế biến mặt hàng cá tra, basa trước hết phải tuân theo code (mã) quy định của liên minh này. Một tiêu chí theo kiểu "luật bất thành văn" mặc nhiên được thừa nhận để được dễ dàng chấp nhận tại các siêu thị, hệ thống bán lẻ tại đây.

Đó là tiêu chuẩn Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt toàn cầu là EurepGAP sau đổi tên thành GobalGap. Chúng ta mặc nhiên phải mua công nghệ và áp dụng nó vào sản xuất. Chính vì vậy, trong những năm qua, để dễ dàng xuất khẩu vào thị trường các nước nói trên, các doanh nghiệp trong ngành Thủy sản tìm mọi cách để áp dụng tiêu chuẩn này.

Nhưng đó là chuyện của EU, còn ở Mỹ, với Đạo luật Farm Bill 2008, họ liên tục liệt cá tra, ba sa của Việt Nam vào danh mục catfish đối với cá tra, ba sa để áp thuế chống bán phá giá và buộc chúng ta ngoài áp dụng HACCP cũng như phải tuân theo một tiêu chuẩn khác về kỹ thuật chế biến cũng như quy trình sản xuất, chế độ kiểm tra chất lượng phải tương đương tiêu chuẩn hiện hành của Bộ Nông nghiệp Mỹ.

Thực sự hàng loạt tiêu chuẩn ấy đã khiến cả người nuôi lẫn doanh nghiệp và nhà quản lý thấy rất bối rối vì chưa biết phải áp dụng GlobalGap hay SQF 1000 cho cá tra, ba sa thì nay có thêm tiêu chuẩn ASC, mà tiêu chuẩn nào cũng được quảng cáo là tốt nhất(!?). Và cũng chẳng ai biết sau những tiêu chuẩn GlobalGap, ASC, SQF, HACCP… thì sắp tới một công ty hay một tổ chức quốc tế nào đó lại đưa ra một tiêu chí mới cho cá tra, ba sa và tạo sức ép với ngành Thủy sản Việt Nam như WWF đã làm thì chúng ta sẽ phải phản ứng như thế nào?

Đứng trước nhiều tiêu chuẩn chất lượng là điều buộc chúng ta phải nhìn nhận, đánh giá cũng như đưa ra giải pháp hiệu quả nhất. Một tiêu chuẩn cá tra, basa Việt Nam do chính người Việt Nam đặt ra đã đến lúc cần triển khai một cách nghiêm túc

N.Thơ - H.Anh