Bộ Công thương cho biết, đề xuất thay đổi biểu giá điện tại dự thảo Quyết định quy định giá bán lẻ điện đang được Bộ này lấy ý kiến dựa trên các nguyên tắc như: Đảm bảo giữ nguyên mức giá bán lẻ điện bình quân cho sinh hoạt hiện hành tại Quyết định số 648/QĐ-BCT của Bộ Công Thương và áp dụng từ ngày 20/3/2019;

Đảm bảo nguyên tắc chi phí tiền điện của đa số các khách hàng sử dụng điện không tăng, đặc biệt là nhóm 18,7 triệu khách hàng sử dụng điện dưới 200 kWh/tháng, chiếm 73,4% tổng các khách hàng sinh hoạt do chủ yếu là người lao động, công chức, viên chức;

Đảm bảo Ngân sách nhà nước hỗ trợ tiền điện cho các khách hàng sử dụng điện là các hộ nghèo, hộ chính sách xã hội tiếp tục duy trì như mức hiện nay…

Nói rõ hơn về phương án 2 trong dự thảo, Bộ Công thương cho biết, phương án này được cải tiến từ phương án biểu giá cho mục đích sinh hoạt gồm 6 bậc thang sang Biểu giá bán lẻ sinh hoạt 5 bậc và giá bán lẻ sinh hoạt một giá, khách hàng được quyền lựa chọn áp dụng biểu giá bán lẻ điện 5 bậc hoặc 1 giá để phù hợp với mức tiêu thụ điện của khách hàng.

Phương án một giá, bằng giá điện sinh hoạt bình quân không nhận được sự ủng hộ của phần đông của các Bộ ngành đã lấy ý kiến

Đáng chú ý, theo Bộ Công thương, phương án một giá, bằng giá điện sinh hoạt bình quân không nhận được sự ủng hộ của phần đông của các Bộ ngành đã lấy ý kiến bởi lẽ, tiền điện các khách hàng sử dụng điện mục đích sinh hoạt có mức sử dụng điện dưới 200 kWh/tháng (khoảng 18,7 triệu khách hàng) phải trả tăng từ 19.000 đến 39.000 đồng/khách hàng/tháng.

Số tiền ngân sách hỗ trợ cho hộ nghèo và hộ chính sách xã hội hàng năm tăng từ mức trên 1.000 tỷ đồng/năm lên khoảng 1.240 tỷ đồng/năm (tăng thêm khoảng 240 tỷ đồng/năm) do mức giá điện một giá cao hơn so với giá bậc 1 hiện hành.

Do đó, Bộ Công thương đã xây dựng phương án 2A và 2B để lấy ý kiến. Trong đó, biểu giá ở 4 bậc thang đầu tiên của phương án 2A và phương án 2B giống như phương án 1. Biểu giá điện 1 giá ở phương án 2A và 2B lần lượt được đề xuất ở mức 145% và 155% giá bình quân, tương ứng với mỗi phương án thì giá điện tại bậc thang thứ 5 sẽ được tính toán lại để giá điện sinh hoạt bình quân không đổi.

Chi phí tiền điện của khách hàng sử dụng điện mục đích sinh hoạt

Các khách hàng sử dụng điện trung bình hàng tháng dưới 700 kWh trong các phương án 1, phương án 2A và 2B có chi phí trả tiền điện bằng nhau do giá 4 bậc thang đầu của các phương án này giống nhau. Ước tính, có khoảng 98% khách hàng thuộc diện này.

Nếu phương án 2A và 2B được áp dụng, khi khách hàng lựa chọn biểu giá theo phương án 1 giá sẽ hạn chế những nhược điểm của giá điện bậc thang, đặc biệt là những khách hàng sử dụng điện ở mức cao như việc tiền điện tăng bất thường vào các tháng nắng nóng, sai lệch về thời điểm ghi chỉ số công tơ hàng tháng.

Nếu giá điện một giá ở mức bằng 145% giá điện bình quân (phương án 2A) thì các khách hàng sử dụng điện trên 800 kWh khi lựa chọn 1 giá sẽ có chi phí tiền điện thấp hơn lựa chọn giá bậc thang. Tương tự nếu giá điện một giá ở mức bằng 155% giá điện bình quân (phương án 2B) thì các khách hàng sử dụng điện trên 1.100 kWh khi lựa chọn 1 giá sẽ có chi phí tiền điện thấp hơn lựa chọn giá bậc thang.

Đánh giá về tất cả các phương án đề xuất trong dự thảo, Bộ Công thương cho hay, đa số các khách hàng sử dụng dưới 600 kWh chi phí tiền điện sẽ giảm so với giá điện hiện hành (từ 2.800 - 12.800 đồng mỗi tháng).

Cụ thể, khách hàng sử dụng 100 kWh chi phí tiền điện sẽ giảm khoảng 2.800 đồng; Khách hàng sử dụng 200 kWh chi phí tiền điện sẽ giảm khoảng 2.800 đồng; Khách hàng sử dụng 400 kWh chi phí tiền điện sẽ giảm khoảng 12.800 đồng; Khách hàng sử dụng 500 kWh chi phí tiền điện sẽ giảm khoảng 7.200 đồng; Khách hàng sử dụng 600 kWh chi phí tiền điện sẽ giảm khoảng 1.600 đồng

Riêng các khách hàng nếu sử dụng ở mức 300 kWh chi phí tiền điện sẽ tăng do ghép bậc 201-300 kWh và 301-400 kWh thành bậc mới. Số tiền phải trả tăng thêm khi sử dụng ở mức 300 kWh là 7.100 đồng.

Theo dự thảo này, các hộ nghèo, hộ chính sách vẫn được hỗ trợ về tiền điện. Có khoảng 1,8 triệu hộ thuộc diện này với tổng mức hỗ trợ khoảng trên 1.000 tỷ đồng/năm.

Có ý kiến cho rằng, nếu đã là một giá điện thì phải gần với giá bán điện bình quân vì thực chất đây đã là mức giá đã gồm chi phí, lợi nhuận cho ngành điện. Mức điện một giá bằng 145-155% giá bán lẻ điện bình quân sẽ “chỉ là cho có”. Trước ý kiến này, Bộ Công thương cho rằng, hiện nay biểu giá bán lẻ điện đang thực hiện theo Quyết định số 648/QĐ-BCT ngày 20 tháng 3 năm 2019. Cơ cấu tiêu thụ điện của các đối tượng khách hàng như sau: sản xuất chiếm 59,1%; kinh doanh chiếm 6,6%; hành chính sự nghiệp chiếm 3,8%; sinh hoạt chiếm 28%.

Do đây không phải là lần điều chỉnh giá điện chỉnh giá điện nên các phương án đưa ra phải đảm bảo mức giá bán lẻ điện bình quân cho tất cả các nhóm khách hàng phải giữ nguyên mức giá 1.864,44 đồng/kWh đã được ban hành tại Quyết định số 648/QĐ-BCT.

Đối với khách hàng sử dụng điện mục đích sinh hoạt thì các phương án sửa đổi biểu giá bán lẻ điện đều đảm bảo giá bán lẻ điện sinh hoạt bình quân vẫn giữ nguyên, không đổi.

Trong quá trình lấy ý kiến các cơ quan, đơn vị, Bộ Công Thương cũng đã xây dựng và đưa ra phương án 1 giá áp dụng cho tất cả các khách hàng sử dụng điện. Phương án này có ưu điểm là đơn giản, dễ thực hiện, khắc phục được một số nhược điểm của cơ cấu biểu giá bán lẻ điện bậc thang hiện hành. 

Nếu áp giá điện một giá ở mức bằng mức giá bình quân thì để đảm bảo giá điện sinh hoạt bình quân không đổi sẽ phải điều chỉnh tăng mức giá bán lẻ ở các mức dưới 700 kWh/tháng. Phương án này có lợi cho các khách hàng sử dụng điện nhiều nhưng sẽ ảnh hưởng tới trên 98% khách hàng sử dụng điện, đặc biệt là các hộ gia đình có thu nhập thấp và trung bình trong xã hội.

Các Phương án nêu trên đã khắc phục được một phần biểu giá bán lẻ điện cho mục đích sinh hoạt hiện hành. Các phương án đưa ra lấy ý kiến đều có những ưu và nhược điểm. Bộ Công thương sẽ tổng hợp ý kiến lựa chọn của các cơ quan đơn vị, các khách hàng sử dụng điện để hoàn chỉnh và báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Dự thảo đang được Bộ Công thương lấy ý kiến rộng rãi trước khi trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định, dự kiến áp dụng từ năm 2021.

Lưu Hiệp