Khối u ung thư gan được phát hiện bằng phim X-Quang.

Hầu như tất cả mọi người trong số chúng ta đều mang trong người ít hay nhiều khối u mà không biết. Những khối u này được y học gọi là các khối u ung thư trong môi trường tự nhiên (in situ). Hơn 1/3 số phụ nữ ở độ tuổi từ 30-40, lúc còn sống không bị ung thư, nhưng khi chết, qua việc mổ xác người ta phát hiện họ có các khối u ung thư nhỏ ở vú.

Bất ngờ trước kết quả trên, các nhà nghiên cứu tiếp tục tiến hành những quan sát tương tự đối với bệnh ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới. Trong thực tế, tất cả đàn ông ở độ tuổi từ 50 đến 70 đều có các khối ung thư biểu mô in situ ở tuyến giáp, trong khi chỉ có 1% số đàn ông trong độ tuổi này chết vì khối u ung thư ở tuyến giáp của họ phát triển.

Việc nhiều người trong số chúng ta mặc dù có mang trong mình các khối u ung thư in situ nhưng những khối u này lại không phát triển thành bệnh cho thấy, các khối u ung thư nhỏ này vẫn còn đang trong giai đoạn tiềm tàng và cần phải có những tác nhân phụ khác để có thể kích hoạt chúng phát triển thành khối u ác tính. Những tác nhân phụ đó là gì? Làm thế nào để cơ thể chúng ta có thể chống lại chúng? Tất cả vấn đề nằm ở khả năng của cơ thể con người trong việc chặn đứng sự phân mạch máu nuôi dưỡng của phần lớn các khối u in situ đó. Chúng ta có thể hiểu nôm na rằng, không có các mạch máu chạy tới cung cấp dưỡng chất cho một khối u in situ nó sẽ tồn tại vĩnh viễn dưới dạng tiềm tàng.

Thật nghịch lý là sự phân mạch máu trong cơ thể người có thể được điều khiển bằng rất nhiều gien. Các gien này vừa có thể kích thích sự phát triển của các tế bào ung thư hoặc kìm hãm sự phát triển của khối u ung thư, nhưng cũng chính các gien đó lại can thiệp vào quá trình hình thành các tế bào ung thư. Về vấn đề  này, trước hết chúng ta cần xác định 2 giai đoạn quan trọng của bệnh ung thư. Trong giai đoạn 1, sự biến đổi của các tế bào ung thư - có thể do sự bất ổn về gien hoặc do cơ thể nhiễm phải một yếu tố làm biến đổi gien - được thể hiện bằng sự biến đổi của các tế bào thường thành các tế bào ung thư. Giai đoạn này không nghiêm trọng lắm vì nó thường chỉ tạo ra một khối u ung thư vô cùng nhỏ. Sau đó các tế bào ung thư bắt đầu nhân lên làm các tế bào lành của cơ thể chết đi. Giai đoạn thứ 2 là sự phân mạch của các khối u. Khi việc phân mạch hoàn tất, tốc độ phát triển của các tế bào ung thư tăng rất nhanh và dần biến khối u này thành một khối u ác tính.

Như vậy, các tế bào ung thư phát tán ở các mức độ khác nhau tùy vào từng cá nhân cụ thể. Bởi lẽ, mỗi người trong chúng ta đều có cơ chế phân mạch khác nhau. Cùng mắc phải các tế bào ung thư, nhưng ở một số người này, các tế bào đó phát triển thành khối u ác tính, trong khi ở một số người khác thì không. Chẳng hạn, người ta quan sát thấy rằng ở những bệnh nhân bị hội chứng down (tam đồng thể 21) rất ít khi bị ung thư. Bởi lẽ, ở những người này, sự xuất hiện của nhiễm sắc thể 21 thứ 2 kích thích việc cơ thể tiết ra nhiều endostatine - một chất ức chế quá trình phân mạch của khối u ung thư. Quan sát trên cho thấy việc tăng các chất chống lại quá trình phân mạch có thể làm giảm tốc độ phát triển của các khối u ung thư.

Từ đây, hai chiến lược điều trị được vạch ra. Chiến lược thứ nhất vừa được cụ thể hóa bằng việc cho phép thương mại hóa một loại thuốc mới có tên Avastine từ cuối tháng 2 vừa qua. Biệt dược này có khả năng ức chế một tác nhân gây ra sự phân mạch do khối u tiết ra (VEGE). Trước mắt Avastine giúp làm giảm sự phát triển của bệnh. Chiến lược thứ 2 mang tính bổ trợ nhằm kích thích cơ chể chống lại quá trình phân mạch của các khối u ung thư.

Để làm được điều này, người ta cho người bệnh uống một loại thuốc ức chế sự phân mạch. Sự kết hợp cả hai chiến lược trên sẽ giúp bệnh ung thư không còn bị coi như một căn bệnh gây chết người mà chỉ là một căn bệnh kinh niên kiểm soát được

Nguyễn Phương (theo Science)