1.Ngày 17/2/1979, biên giới phía Bắc Việt Nam bị xâm lấn, xảy ra cuộc chiến khốc liệt. Lúc đó Thiếu tướng Lê Văn Bảy, nguyên Giám đốc Công an tỉnh Lai Châu còn là chàng trai xứ Nghệ 20 tuổi, lên nhận công tác tại Tiểu đoàn Cảnh sát cơ động (CSCĐ), Công an tỉnh Lai Châu. Tiểu đoàn của anh Bảy được chia ra, tăng cường về các xã biên giới để phối hợp với các đơn vị chủ lực vừa chiến đấu, vận động nhân dân sơ tán để đảm bảo an toàn, vừa tổ chức bắt các toán thám báo…

…6h ngày 6/3/1979, quân Trung Quốc đồng loạt tấn công vào Đồn Biên phòng Giào San. Đối phương có hơn tiểu đoàn dàn hàng ngang ồ ạt tấn công vào Đồn Biên phòng, trong khi tất cả lực lượng của ta ở đây chỉ có vỏn vẹn chưa đến 100 người. Lực lượng CSCĐ Công an tỉnh Lai Châu của anh Bảy cùng với lực lượng biên phòng phải chiến đấu không cân sức, giành giật với đối phương từng điểm cao trận địa. Cả ngọn đồi C5 Giào San chìm trong lửa đạn, xác đối phương chết chồng lên nhau dưới khe cạn, nhưng chúng còn quá đông nên cứ tiếp tục tràn lên.

Đồng chí Hoàng Văn Tầm, Tiểu đội trưởng của lực lượng CSCĐ nhoài người lên thành công sự, xả súng tiểu liên về phía đối phương. Nhiều kẻ ngã xuống dưới làn đạn của anh Tầm, nhưng sau đó, anh cũng đã trúng đạn và ngã xuống trong vòng tay đồng đội. Căm hận kẻ thù, noi gương người tiểu đội trưởng hy sinh, các chiến sỹ CSCĐ và Biên phòng Đồn Giào San đã quật cường chiến đấu, đồng chí này ngã xuống, đồng chí khác lại trườn lên thay vị trí, không cho bọn giặc tràn lên chiếm đồn…

Sau hơn 3 giờ dũng cảm chiến đấu, giành giật từng tấc đất với đối phương vẫn còn quá đông, các chiến sỹ của ta đã không còn đủ cơ số đạn để chống cự lại. Để bảo toàn lực lượng, các đơn vị có lệnh vừa chiến đấu, vừa rút lui về tuyến sau.

Nhưng ngay lúc đó, anh Bảy cùng 2 đồng đội là anh Nguyễn Cảnh Nguyên (nay là Thượng tá, Đội trưởng thuộc Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về TTXH, Công an tỉnh Lai Châu) và anh Nam (cùng tiểu đội) bị trúng loạt đạn của đối phương. Anh Bảy bị đạn bắn xuyên cả 2 đùi, anh Nguyên bị bắn vào cổ chân vỡ xương mác, anh Nam bị bắn vào bắp chân.

Thiếu tướng Lê Văn Bảy về thăm lại gia đình đã cứu các anh trong trận chiến đấu ở Giào San.

Nghiến răng nén đau, cả ba anh tự băng bó và dìu nhau vào căn hầm của Trung tá Nguyễn Duy Linh - Cụm trưởng Cụm 1, Biên phòng. Anh Nam được một đồng đội đưa đi trước, còn lại anh Bảy và anh Nguyên ở lại trong hầm chờ mọi người lên cứu.

Lúc đó, hai người chỉ còn 10 quả lựu đạn và 2 khẩu súng nhưng họ vẫn tiếp tục chiến đấu. 9 quả lựu đạn đã được ném ra tiêu diệt một số tên địch ngay trước cửa hầm. Phát hiện trong hầm có người, bọn địch đã tập trung bắn vào. May mắn là cửa hầm chữ chi nên các anh nằm sâu trong hầm được an toàn. Còn một quả lựu đạn, anh Bảy bảo anh Nguyên: “Giành lại cho chúng mình nếu chẳng may địch tràn được vào hầm, bắt sống”. Sau một hồi nã đạn vào hầm, nghĩ người trong hầm đã chết, bọn địch đã bắn B40 làm sập toàn bộ cửa hầm rồi bỏ đi…

Nửa đêm hôm đó, thấy trận địa đã yên ắng, vừa khát, vừa mất nhiều máu, anh Bảy và anh Nguyên quyết định mở cửa hầm chui ra. Chân thì bị thương chảy nhiều máu, họ chỉ còn đôi bàn tay không, vừa cào, vừa bới đất sang bên. Cũng khá lâu sau đó, các anh cũng không thể áng được thời gian, khi cả 2 đôi bàn tay đã sưng vù, rớm máu thì lớp đất đá cuối cùng đã được chọc thủng. Khi lỗ thủng chui vừa người, hai anh trườn ra, bò xuống khe suối uống nước. Cố gắng nén đau nhúng vết thương xuống dòng suối để rửa sạch bụi bẩn, hai anh tự xé quần áo làm băng, xé mũ bông lấy bông làm gạc, băng bó cho nhau rồi bắt đầu hành trình đi tìm sự sống.

5 ngày, 6 đêm, hai anh lê lết trong rừng để tìm đường về với dân, với đồng đội. Khát uống nước suối, đói ăn lá me rừng cầm hơi, các vết thương bắt đầu nhiễm trùng nặng và thối rữa, gây đau nhức đến tận xương tủy…

Có những lúc, các anh đuối sức đã ngất đi, nhưng tỉnh dậy, họ lại không thôi hy vọng về con đường sống. Họ lại bò, lết đi trong rừng để tìm ra những lối mòn về với bản làng… Và may mắn đã đến với các anh vào đúng ngày thứ 6 lạc trong rừng, hai anh được bố con anh Hạng A Thể cùng bà con dân bản Dền Thàng, xã Giào San, huyện Phong Thổ phát hiện và đưa về giấu trong hang đá để cứu chữa. Hàng ngày, gia đình anh Thể thay băng, cho thuốc uống, tìm mọi cách để báo về đơn vị là 2 anh vẫn còn sống, đang được nhân dân nuôi giấu…

2. Từ ngày 17/2/1979, khi quân xâm lược tấn công biên giới phía Bắc nước ta, không chỉ ở tỉnh biên giới Lai Châu, cuộc chiến đấu bảo vệ từng tấc đất quê hương còn diễn ra khốc liệt ở các tỉnh biên giới Hoàng Liên Sơn (nay là Yên Bái và Lào Cai), Hà Tuyên (nay là Hà Giang và Tuyên Quang), Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh. Ở những nơi này, lực lượng Công an đã tăng cường công tác bảo vệ an ninh, bám sát địa bàn hoạt động, tích cực vận động nhân dân nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu chống quân xâm lược.

Dù ở mặt trận nào quân đối phương cũng quá đông, nhưng cán bộ của ta vẫn kiên cường chiến đấu, máu của họ đã thấm đẫm miền biên viễn, chặn đứng bước chân xâm lược của đối phương. Có những trận chiến đấu oanh liệt, mà trong đó cán bộ, chiến sỹ CAND đã cùng với các lực lượng vũ trang khác và nhân dân địa phương viết lên trang sử vàng cho dân tộc. 

Tại Hoàng Liên Sơn, quân xâm lược bắn phá ác liệt, các chiến sĩ Công an các huyện Mường Khương, Bát Xát, thị xã Lào Cai đã dũng cảm sát cánh cùng các lực lượng vũ trang đánh địch quyết liệt để bảo vệ nhân dân sơ tán. Ở khu vực Pha Long, 1 trung đoàn địch đã bao vây Đồn Pha Long. Trong 4 ngày (từ 17/2 đến 20/2/1979), cán bộ, chiến sĩ Đồn Pha Long đã sát cánh với công nhân lâm trường Pha Long chiến đấu quyết liệt với địch, bảo vệ từng khu vực của đồn, đẩy lùi hàng chục đợt tiến công của đối phương, diệt 400 tên địch.

Trong đợt chiến đấu này, đồn đã tiêu diệt gần 800 tên địch, làm bị thương 400 tên, trấp áp kịp thời bọn phản động trong địa bàn, ngăn chặn âm mưu gây bạo loạn của chúng.

Ở khu vực Lũng Làn, quân xâm lược dùng pháo tầm xa bắn vào các bản làng của đồng bào. Các chiến sĩ Công an kịp thời có mặt, giúp đỡ đồng bào các dân tộc chuyển lên các điểm cao trong núi, tránh tầm pháo của địch. Các chiến sĩ Công an vũ trang cùng với lực lượng dân quân du kích chiến đấu kiên cường, giáng trả quân xâm lược những đòn đích đáng, đánh bật chúng ra khỏi thung lũng, diệt gần 100 tên. Suốt 20 ngày chiến đấu, đồn Lũng Làn đã diệt 700 tên địch, thu 6 súng, hàng nghìn viên đạn, cứu gần 200 dân khỏi vòng vây.

Thượng úy, Đồn trưởng Lộc Viễn Tài chỉ huy mưu trí, dũng cảm. Một mình đồng chí Tài sử dụng 5 loại vũ khí xông vào giữa vòng vây địch, giải vây cho đồng đội, diệt 25 tên địch. Đồng chí đã anh dũng hy sinh, sự hy sinh ấy đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm, của ý chí quật cường của lực lượng vũ trang và nhân dân các tỉnh biên giới trong chiến tranh biên giới phía Bắc…

Rồi Công an các huyện thuộc các tỉnh biên giới phía Bắc đã khẩn trương bám các bản làng, tổ chức nhân dân chuẩn bị chiến đấu, phát hiện những tên tay sai, thám báo của địch, không cho chúng tiếp tay cho đối phương. Nhiều đơn vị Công an đã tận tụy dũng cảm, bảo vệ nhân dân, tiêu diệt nhiều tên địch, không cho chúng cướp phá, tàn sát dân làng…

3. Ghi nhận những đóng góp to lớn của lực lượng CAND, ngày 10-3-1979, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký quyết định tặng thưởng Huân chương cho 24 đơn vị Công an nhân dân vũ trang lập thành tích xuất sắc trong chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Trong cuộc chiến đấu ấy, cán bộ, chiến sĩ Công an các tỉnh biên giới phía Bắc cùng với lực lượng vũ trang khác đã kiên cường, dũng cảm, không sợ hy sinh, gian khổ, góp phần vào thắng lợi chung của quân và dân ta. Nhiều đồng chí lập công xuất sắc, nêu gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Điển hình là các đồng chí: Nông Thế Tĩnh, Nông Thế Thuận và Đinh Văn Hải, Cảnh sát bảo vệ Công an tỉnh Cao Bằng; Đại đội 1, Tiểu đoàn cảnh sát bảo vệ và các đồng chí Hoàng Văn Trai, Triệu Văn Điện, Hoàng Văn Liên, Phan Tiến Dũng, Cảnh sát bảo vệ Công an tỉnh Lạng Sơn; Hoàng Văn Tâm, Cảnh sát bảo vệ Công an tỉnh Lai Châu được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và nhiều tấm gương khác nữa...

Hơn 40 năm đã trôi qua, vết thương trên cơ thể đã mờ sẹo dần theo năm tháng nhưng kỷ niệm về cuộc chiến đấu chống quân xâm lược, bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 luôn khắc ghi mãi trong trái tim những người lính năm xưa. Họ đã tiếp tục chiến đấu, tiếp tục công tác và tận hiến cho ngành, cho đất nước. “Chúng tôi đã nỗ lực không ngừng, vì cả các đồng chí đã hy sinh như người Tiểu đội trưởng Hoàng Văn Tầm của chúng tôi, để sự hy sinh của các anh có ý nghĩa hơn” - Thiếu tướng Lê Văn Bảy chia sẻ.
T. Hòa