Trả lời:

Về chế độ nghỉ khám thai, theo quy định về chế độ thai sản tại Mục 2 Chương III Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 (sau đây viết là Luật BHXH): Trong thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai 5 lần, mỗi lần 1 ngày; trường hợp ở xa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ 2 ngày cho mỗi lần khám thai. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định trên được tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần (Điều 32 Luật BHXH).

Lao động nữ khi sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là 6 tháng. Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản trước khi sinh tối đa không quá 2 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 1 tháng (Điều 34 Luật BHXH). Lao động nữ sinh con thì được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 2 lần mức lương cơ sở tại tháng lao động nữ sinh con (Điều 38 Luật BHXH). 

Lao động nữ có thể đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con quy định tại Khoản 1 hoặc Khoản 3 Điều 34 của Luật BHXH khi có đủ các điều kiện sau đây: Sau khi đã nghỉ hưởng chế độ ít nhất được 4 tháng và phải báo cáo trước và được người sử dụng lao động đồng ý. Ngoài tiền lương của những ngày làm việc, lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi hết thời hạn. 

Lao động nữ ngay sau thời gian hưởng chế độ thai sản quy định tại Điều 33, Khoản 1 hoặc Khoản 3 Điều 34 của Luật BHXH, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ 5 đến 10 ngày. Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe bao gồm cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần. Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe được quy định như sau: Tối đa 10 ngày đối với lao động nữ sinh một lần từ hai con trở lên; tối đa 7 ngày đối với lao động nữ sinh con phải phẫu thuật; tối đa 5 ngày đối với các trường hợp khác.

Mức hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản một ngày bằng 30% mức lương cơ sở. Trường hợp người lao động không nghỉ việc thì không được hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe (Điều 41 Luật BHXH).

Về chế độ thanh toán tiền viện phí: Bạn đã được BHXH CAND cấp thẻ BHYT, khi đi khám thai định kỳ và sinh con đúng quy định tại Điều 26, 27, 28 của Luật BHYT (như: Thẻ BHYT còn thời hạn sử dụng; đúng nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu, trừ trường hợp cấp cứu hoặc có Giấy chuyển tuyến theo đúng quy định...) thì được cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thanh toán 100% chi phí trong phạm vi, quyền lợi được hưởng (quy định tại Điều 11 Nghị định số 70/2015/NĐ-CP, ngày 1-9-2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHYT đối với Quân đội nhân dân, CAND và người làm công tác cơ yếu). 

Trường hợp bạn tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến thì được hưởng 60% chi phí điều trị nội trú tại tuyến tỉnh hoặc 40% chi phí điều trị nội trú tại tuyến Trung ương. Chi phí khám bệnh, chữa bệnh ngoại trú và phần còn lại của chi phí điều trị nội trú nêu trên cá nhân tự thanh toán với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. 

Trường hợp bạn khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu hoặc sử dụng các dịch vụ y tế xã hội hóa thì chỉ được thanh toán trong phạm vi hưởng và mức hưởng theo quy định tại Khoản 1,2,3 Điều 11 Nghị định số 70/2015/NĐ-CP nêu trên. 

Trường hợp đi khám bệnh, chữa bệnh đúng quy định nhưng chưa được cơ sở y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh hoặc thanh toán chưa đầy đủ phạm vi, mức hưởng theo quy định, bạn làm Giấy đề nghị (theo mẫu) gửi đơn vị đang công tác lập hồ sơ đề nghị BHXH CAND thanh toán trực tiếp chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại Điều 16 Thông tư số 43/2016/TT-BCA, ngày 25-10-2016 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định biện pháp thực hiện BHYT đối với sỹ quan, hạ sỹ quan, chiến sỹ CAND.   

Ban PL-BĐ