Không tường rào cao có dây kẽm gai, không chốt chặn bảo vệ, không lực lượng chuyên trách canh gác ngày đêm, trại giam thời mưa bom bão đạn thực tế là trại giam di động, khi thì giữa đồng hoang, khi thì nấp trong rừng lá dừa nước, hoặc nơi có nhiều cây cối, sông rạch hiểm trở, địch khó phát hiện hoặc không ngờ tới. Không chỉ canh giữ, đảm bảo an toàn cho hàng trăm phạm nhân, cán bộ trại giam thời chiến còn luôn nêu cao tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, Trung tướng Sơn Cang - nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh II, Anh hùng LLVTND, là một nhân chứng lịch sử, đã góp sức mình vào nhiệm vụ vẻ vang đó của CAND.

Trung tướng Sơn Cang kể, Trại giam thuộc Ban An ninh tỉnh Trà Vinh được thành lập năm 1961.“Quân số gỏn gọn chỉ 16 đồng chí nhưng chúng tôi phải vừa bảo đảm công tác giam giữ, giáo dục, cải tạo hơn trăm phạm nhân là những tên ác ôn, ngụy quân, ngụy quyền, cốt cán trong các tổ chức phản động; vừa thực hiện công tác trinh sát phục vụ chiến đấu. Giai đoạn 1969 – 1973, trại phải thường xuyên di dời để tránh phát hiện của địch” – Trung tướng Sơn Cang cho biết.

“Trại giam đặt tại vùng nước mặn nên nhu cầu nước ngọt phục vụ sinh hoạt cho cán bộ, chiến sĩ và phạm nhân rất lớn. Để có nước ngọt, chúng tôi đã phải mưu trí, nhiều lần vượt qua sự canh gác nghiêm ngặt, đột nhập vào vùng kiểm soát của địch. Lấy được nước xong, nhanh nhất cũng phải mất một ngày đêm mới vận chuyển được về căn cứ”.

Sơn Cang kể một lần ông cùng hai chiến sĩ chống xuồng chở nước ngọt về ngang địa bàn xã Phước Bình, huyện Duyên Hải thì bất ngờ rơi vào vòng phục kích của địch. “Tôi chỉ huy hai chiến sĩ vừa chủ động  nổ súng, vừa rời xuồng trầm mình dưới kênh và di chuyển chiến đấu thu hút địch xa dần xuồng chở nước. Khi địch rút lui, tôi quay lại chuyển nguyên vẹn xuồng nước về căn cứ” – Sơn Cang kể.

Anh hùng LLVTND, Trung tướng Sơn Cang với PV Báo CAND.

Đầu năm 1970, trong một trận đánh máy bay thị sát của địch, du kích xã Trường Long Hòa, huyện Cầu Ngang đã bắn rơi một chiếc, bắt được hai lính Mỹ và chuyển giao cho lực lượng An ninh xử lý.

Về phía địch, sau khi 2 lính Mỹ trên bị “mất tích”, chúng dùng lực lượng bộ binh, không quân và tàu chiến bao vây nhiều vùng nghi ngờ để tìm kiếm. Có lúc chúng mở trận càn suốt 7 ngày đêm.

Trước tình hình này, Sơn Cang đã chủ động đề xuất lãnh đạo trại giữ 2 lính Mỹ ở nơi riêng. Ông cùng 3 cán bộ khác trực tiếp quản lý, khai thác. Dù bất đồng ngôn ngữ nhưng Sơn Cang vẫn tìm mọi cách để hướng dẫn 2 lính Mỹ cách sinh hoạt, ăn uống, cách tránh đạn khi trại bị địch tấn công.

“Hai lính Mỹ bắt đầu có cảm tình, tỏ lòng biết ơn và hợp tác tốt với chúng tôi. Tôi bắt đầu thu thập danh tánh, lai lịch và đặc biệt là hoạt động của cả hai. Một người tên là Prap, là thiếu tá tình báo chỉ huy Vùng IV chiến thuật. Người còn lại là Uat, là trung úy phi công, trợ lý cho Prap. Prap khai trước lúc bị bắt, anh ta thực hiện công việc thị sát tình hình để tung mạng lưới gián điệp vào vùng giải phóng, cài cắm người vào nội bộ ta. Đây là những thông tin rất quan trọng, phục vụ cho việc ngăn chặn, bóc gỡ mạng lưới cơ sở của địch sau đó” –  Sơn Cang kể.

Anh hùng LLVTND, Trung tướng Sơn Cang - nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh II, Bộ Công an.

Trong một trận càn quét vào đầu năm 1972, địch dùng hỏa lực đánh trúng điểm trại đang đóng tại xã Hiệp Mỹ, huyện Cầu Ngang, giải vây được một số phạm nhân, trong đó có Sáu Cụt – tên chỉ điểm nguy hiểm.

Nhận định tình hình sẽ bất lợi, Ban chỉ huy trại cho dời ngay trại về xã Long Toàn, huyện Duyên Hải, chỉ để 4 cán bộ và 2 can phạm ở lại, do Sơn Cang chỉ huy.

Đúng như dự đoán, Sáu Cụt đã dẫn địch đánh vào trại. Chúng bố trí trực thăng đổ quân khoảng 1 trung đội cách trại gần 800m để hỗ trợ. Sơn Cang chỉ đạo bảo vệ trại đặt mìn, lựu đạn, chông rồi chờ địch đến cách khoảng 3m, cho anh em nổ súng. Bị chống trả bất ngờ, địch lúng túng bị động chống trả rồi buộc phải tháo chạy.

Có một trận đánh “không thể nào quên” vào tháng 4/1972, khi đó Trung tướng Sơn Cang là Phó Tiểu ban Bảo vệ chính trị, phụ trách công tác chấp pháp của Ban An ninh tỉnh Trà Vinh. Sơn Cang kể, bấy giờ trại đóng trên địa bàn xã Long Toàn. Khoảng 15h ngày 3/4/1972, địch huy động 3 tàu chiến từ vàm Cái Nước chạy vô sông Bến Giá (Duyên Hải) và 2 phi cơ hộ tống tấn công trại. Cùng lúc, 2 máy bay trực thăng phát hiện căn cứ trại nên liên lạc tàu địch nã nã đạn cối vào khu vực trại.

“Lúc đó, trại giữ gần 200 phạm nhân, trong đó có Prap và Uat. Đồng chí Trưởng Ban An ninh tỉnh vừa đến làm việc và chưa rời khỏi trại. Tôi nhận thấy nếu để địch phát hiện nhà giam, quyết giải thoát can phạm, và lực lượng ta mà dốc toàn lực đánh phá… sẽ gây cho ta nhiều tổn thất nặng nề. Tôi quyết định đánh lạc hướng địch, tạo điều kiện để lãnh đạo và phạm nhân di chuyển khỏi khu vực mà địch tập trung đánh phá. Khi máy bay địch đã rà sát ngọn cây, tôi lập tức nhảy ra khỏi công sự, bắn thẳng về phía máy bay để thu hút địch, đồng thời lao xuống công sự để băng bó vết thương cho 2 đồng đội, rồi tôi lại tiếp tục bắn máy bay địch” – ông kể.

Suốt 4 giờ liền, tiếng súng của Sơn Cang đã hút địch ra khỏi trận địa. Địch tập trung nã đạn, pháo về phía ông mà không phát hiện các nhà giam và nhiều điểm trú ẩn của… ta gần đó. 

Không chỉ chống những đợt càn quét, bao vây của địch, cán bộ trại giam thời chiến còn luôn chủ động, đề xuất và thực hiện phương án hiệu quả, tối ưu nhất để bức rút đồn bốt, tiêu diệt địch quanh trại giam. Trong mọi tình huống chiến đấu, cán bộ trại phải mưu trí, sáng tạo, phát huy tinh thần quả cảm để chiến thắng kẻ thù, bảo vệ cán bộ, bảo vệ tính mạng, tài sản nhân dân. Sơn Cang kể trong những năm làm cán bộ trại giam, ông từng trực tiếp đào hàng trăm met hầm ngầm phục vụ tấn công, chiếm lĩnh đồn bốt địch. 

Cuối 1973, hay tin trong lúc hành quân vào xã Long Hữu, địch đã vây bắt và lùa đàn bò của người dân về hướng Long Toàn, ông đã nhanh chóng bố trí lực lượng chia thành 2 mũi rồi nhất tề xông lên tiêu diệt địch. Bị tấn công bất ngờ, số địch sống sót bỏ… bò chạy lấy người. 

“Sau trận đánh ấy, bà con càng trở nên tin yêu chúng tôi; tiếp tục chở che, giúp đỡ và xem chúng tôi như con em trong nhà mình…” – Trung tướng Sơn Cang vui sướng, nhớ lại.

Thái Bình